Đã đến lúc TP.HCM cần một 'chiếc áo' pháp lý riêng biệt
Việc xây dựng Luật Đô thị đặc biệt cho TP.HCM là nhu cầu khách quan và cấp bách nhằm thay thế các cơ chế đặc thù vốn đã 'chạm ngưỡng', tạo đột phá thể chế toàn diện cho siêu đô thị.
Phát biểu định hướng tại Kỳ họp thứ nhất, HĐND TP.HCM khóa XI, nhiệm kỳ 2026-2031 vào ngày 30-3, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải yêu cầu HĐND TP chủ động đánh giá, tổng kết việc thực hiện các cơ chế, chính sách đặc thù. Đồng thời, phối hợp với các cơ quan của Quốc hội, Chính phủ nghiên cứu xây dựng Luật Đô thị đặc biệt trình Quốc hội xem xét, thông qua.
Trước đó, Ban Thường vụ Thành ủy TP.HCM cũng đã có kế hoạch tập trung xây dựng dự thảo Luật Đô thị đặc biệt trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 9-2026.
TP.HCM là đô thị đã có một hành trình dài, nhiều cơ hội trải nghiệm các thể chế đổi mới và đương nhiên cùng với các cơ hội đó là nhiều thử thách. Từng trải qua những lúc phải “xé rào” và sau đó là xin cơ chế đặc thù, TP.HCM luôn trăn trở và đối diện với việc giải tỏa các áp lực trong tổ chức, điều hành đô thị.
Thực tiễn đô thị hóa mạnh mẽ, sự phát triển không ngừng của thương mại, dịch vụ tại một siêu đô thị như TP.HCM với nội lực bên trong mạnh mẽ, tiềm năng dồi dào và một định hướng phát triển đầy triển vọng đã đặt ra nhiều thách thức cho chính quyền TP về mặt thể chế.
Dù là vậy nhưng khi đối diện với mô hình tổ chức “tập trung – dân chủ” ở nước ta thì một thể chế vượt trội và đặc biệt cho TP.HCM là bài toán khó. Đó là làm sao để thể chế cho TP.HCM vừa đáp ứng yêu cầu trong điều hành, phát triển TP, vừa hòa nhập, đồng bộ trong một hệ thống chính trị - pháp lý thống nhất và xuyên suốt. Trên con đường tìm tiếng nói chung giữa Trung ương và địa phương, giải pháp về cơ chế đặc thù bước đầu là giải pháp khả thi, phù hợp.
TP.HCM với cơ chế, chính sách đặc thù đã được bổ sung các thể chế vượt trội, đáp ứng phần nào nhu cầu quản trị đô thị của địa phương. Về phía Trung ương, với cơ chế, chính sách đặc thù có thời hạn và yêu cầu báo cáo thường xuyên, vẫn bảo đảm được nguyên tắc “tập trung – dân chủ”.
Tuy nhiên, với cơ chế đặc thù mang tính nhỏ lẻ, tính thời điểm và quan trọng là tính phụ thuộc vẫn rất lớn thì đây mới chỉ là "đặc thù” so với thể chế chung, đồng nhất chứ chưa phải là thể chế đặc trưng, đặc định cho TP.HCM. Nó chưa đủ cởi trói cho các nút thắt và điểm nghẽn.
Hành trình nhiều năm trải nghiệm cho thấy các cơ chế đặc thù được ban hành trong bối cảnh cả hệ thống pháp luật về chính quyền địa phương đều đã chạm ngưỡng của khả năng điều chỉnh.
Vì khi các đô thị áp dụng nghị quyết riêng với những đặc cách vượt cả Luật Tổ chức CQĐP thì rõ ràng luật này thực chất chưa thành công trong nhiệm vụ điều chỉnh chính quyền đô thị.
Nói cách khác, TP.HCM nói riêng và các đô thị lớn nói chung cần có hệ thống pháp luật riêng so với quy định chung của Luật Tổ chức CQĐP hiện hành nhưng đó không thể chỉ là các nghị quyết đặc thù. Tình hình hiện tại đã đủ cấp bách để đặt ra vấn đề tiến tới vượt qua những rào cản về quan điểm, nhằm xây dựng một thể chế đặc biệt toàn diện, vững chắc cho TP.HCM.
Bên cạnh đó, công cuộc sáp nhập, tinh gọn bộ máy và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp cũng đặt ra những yêu cầu, cơ hội và thách thức mới. TP.HCM hiện là một đô thị với không gian mới, có sự pha trộn cả đô thị, nông thôn và hải đảo, với nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội mở rộng, lan tỏa ra phạm vi cả vùng Đông Nam Bộ và là đầu tàu kinh tế của cả nước.
Về lợi thế, tổ chức chính quyền hai cấp là mô hình đặc trưng của chính quyền đô thị. Mô hình này bảo đảm một tổ chức chính quyền đô thị chủ động, sáng tạo, năng động, gọn nhẹ và phản ứng nhanh với những diễn biến của yếu tố đô thị. Cơ hội mới đặt ra cho TP.HCM là phải có thể chế phù hợp, đồng bộ, tương thích với mô hình chính quyền đô thị hai cấp. Thể chế này vừa là cơ hội, vừa là động lực để cải cách toàn diện pháp luật về chính quyền đô thị nói chung.
Có thể nói, trong tổng thể công cuộc đổi mới sâu rộng, toàn diện lần này, việc giữ lại hệ thống pháp luật tổ chức CQĐP cũ với tư duy cũ là một nghịch lý, thậm chí có nguy cơ phủ nhận hiệu quả và những hy sinh vừa qua của công cuộc cải cách toàn diện.
Do đó, từ tổng thể những yếu tố về lý luận và thực tiễn, đặc biệt là với tình hình cụ thể của TP.HCM cùng các yếu tố hiện thực và bối cảnh mới, yêu cầu về việc thay thế một tổ hợp pháp lý phức tạp, được lắp ghép từ nhiều nhóm quy định khác nhau hiện có bằng một thể chế chung, thống nhất, đầy đủ, toàn diện, vững chắc dưới hình thức Luật đô thị đặc biệt là một nhu cầu khách quan.
Việc Bộ Chính trị đồng ý chủ trương này với TP.HCM không chỉ giải tỏa áp lực và điểm nghẽn pháp lý bao lâu nay cho TP, mà còn là câu chuyện về sự kết nối, sẻ chia giữa Trung ương và địa phương. Đó là sự phân vai, phân định hợp lý, rõ ràng, minh định thẩm quyền giữa Trung ương và địa phương, hướng đến một chính quyền đô thị tự chủ, tự quyết, tự chịu trách nhiệm.
Việc ban hành Luật Đô thị đặc biệt cho TP.HCM không chỉ là câu chuyện riêng của chính quyền TP.HCM, mà là câu chuyện chung về pháp luật chính quyền đô thị. Đây là bước cải cách mạnh mẽ, có vai trò lan tỏa và tác động sâu sắc đến xu hướng, hành trình đổi mới toàn diện pháp luật tổ chức chính quyền địa phương ở nước ta theo hướng tăng cường phân quyền, phân cấp, tương thích và tiếp cận với các lý thuyết tiên tiến trên thế giới trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Nguồn PLO: https://plo.vn/video/da-den-luc-tphcm-can-mot-chiec-ao-phap-ly-rieng-biet-post901894.html













