Đã rõ hình hài đại công trình đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng
Đã có thể hình dung chính xác về quy mô, công nghệ, hệ thống hạ tầng, trang thiết bị, khu depot, đầu máy, toa xe, phương án tổ chức triển khai và cả những rủi ro về địa chất khi xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng.
Chốt công nghệ lựa chọn
Sau hơn 18 tháng triển khai quyết liệt, Ban quản lý dự án Đường sắt vừa có Tờ trình số 3402/TTr-BQLDADS ngày 29/9/2026 gửi Bộ Xây dựng đề nghị thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án thành phần 2: Đầu tư xây dựng công trình đường sắt thuộc Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng.
Mốc thời gian này được tính từ khi Quốc hội thông qua Nghị quyết số 187/2025/QH15 ngày 19/2/2025 về chủ trương đầu tư Dự án.
“Đây là dự án thành phần có quy mô đầu tư lớn nhất, chiếm gần 74% sơ bộ tổng mức đầu tư toàn Dự án”, ông Mai Minh Việt, Giám đốc Ban quản lý dự án Đường sắt cho biết.

Phối cảnh tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng. Ảnh: Tư liệu
Khác với giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi, khi các thông tin mới dừng ở mức sơ bộ, Báo cáo nghiên cứu khả thi do Công ty hữu hạn Tập đoàn Viện khảo sát và thiết kế số 4 Đường sắt Trung Quốc (Viện 4) thực hiện đã làm rõ quy mô, công nghệ, các hạng mục đầu tư và phương án tổ chức triển khai Dự án thành phần 2.
Trong đó có phương án tuyến, nền đường, cầu, hầm, nhà ga, depot, đầu máy, toa xe; hệ thống điện khí hóa, thông tin, tín hiệu, phòng chống thiên tai; công tác duy tu, bảo trì; phương án thi công, tài chính, hiệu quả kinh tế, dự báo lưu lượng vận tải và đánh giá ảnh hưởng của các đới đứt gãy, động đất.
Đây là những căn cứ quan trọng để xác định tổng mức đầu tư, lựa chọn giải pháp kỹ thuật và nhận diện các rủi ro về tiến độ, chi phí xây dựng.
Theo đề xuất mới nhất, Dự án bao gồm tuyến chính Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng dài 362,954 km, cùng các tuyến nhánh kết nối cảng Lạch Huyện (27,010 km), Nam Đồ Sơn (11,603 km), Đình Vũ (4,104 km), Lào Cai - Yên Viên (1,728 km), Hải Phòng - Yên Viên (1,900 km), Hà Nội - Thái Nguyên đến Đông Anh (2,7 km) và ga Nam Phúc Yên (4,069 km).
Dự án còn xây dựng đường đôi, điện khí hóa đoạn Yên Viên - Gia Lâm dài 8,4 km, cải tạo ga Yên Viên và 0,48 km đường sắt khổ 1 m tại ga Lào Cai.
Trên tuyến dự kiến bố trí 29 ga, gồm 24 ga trên tuyến chính, 4 ga tại các tuyến nhánh khu cảng và 1 ga trên đoạn Yên Viên - Gia Lâm.
Về kỹ thuật, Dự án sử dụng khổ đường 1.435 mm, vận tải chung hành khách và hàng hóa; xây dựng đường đôi trên các đoạn Bắc Hồng - Nam Hải Phòng, Yên Viên - Gia Lâm và đường đơn trên các đoạn còn lại. Tốc độ thiết kế tương ứng 160 km/h trên đoạn Lào Cai - Nam Hải Phòng, 120 km/h qua đầu mối Hà Nội và 80 km/h trên các đoạn còn lại.
Đáng chú ý, tuyến chính có khoảng 161 km cầu, chiếm 44% chiều dài, cùng 55 hầm dài hơn 50 km. Những công trình nổi bật gồm cầu chung đường sắt, đường bộ cảng Lạch Huyện dài hơn 22 km; hầm Văn Hóa dài 6,16 km và hầm Thôn Cổ Lâu 1 dài gần 2,5 km, cho thấy khối lượng xây dựng và yêu cầu kỹ thuật phức tạp của Dự án.
Về công nghệ, tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng được đề xuất điện khí hóa trên tuyến chính, trong khi các tuyến nhánh kết nối khu cảng sử dụng đầu máy diesel, có dự phòng điện khí hóa trong tương lai.
Hệ thống đường ray trên tuyến chính và các tuyến nhánh sử dụng ray 60 kg/m, tà vẹt bê tông dự ứng lực, nền đá ba lát và công nghệ đường ray hàn liền; riêng khu vực cảng sử dụng ray 50 kg/m. Đối với phương tiện vận tải, đơn vị tư vấn đề xuất sử dụng đoàn tàu khách động lực tập trung dòng CR200J, với hai loại tổ hợp gồm 16 - 18 toa và 8 - 9 toa.

Đồ họa: Đan Nguyễn
Thách thức lớn về địa chất
Một thông tin đáng chú ý khác tại Tờ trình số 3402 là tổng mức đầu tư Dự án thành phần 2 được xác định khoảng 59.155 triệu nhân dân tệ, tương đương 214.081,569 tỷ đồng sau khi tiếp thu các ý kiến thẩm định của hai phía Việt Nam và Trung Quốc.
Về nguồn vốn, Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng (bao gồm cả Dự án thành phần 2) dự kiến sử dụng ngân sách nhà nước bố trí trong các kế hoạch đầu tư công trung hạn và các nguồn vốn hợp pháp khác, bao gồm phát hành trái phiếu Chính phủ, nguồn tiết kiệm chi và vốn vay.
Theo phương án dự kiến, nhu cầu vốn năm 2026 khoảng 15.110 tỷ đồng, năm 2027 khoảng 30.855 tỷ đồng, tăng mạnh lên 73.194 tỷ đồng vào năm 2028, sau đó giảm còn 58.310 tỷ đồng năm 2029 và 47.117 tỷ đồng năm 2030. Giai đoạn 2031 - 2035 dự kiến bố trí thêm khoảng 64.042 tỷ đồng.
Dự án phấn đấu hoàn thành cơ bản chậm nhất vào năm 2030; riêng tuyến nhánh kết nối ga Nam Hải Phòng với ga Nam Đồ Sơn sẽ được triển khai đồng bộ với tiến độ đầu tư khu bến Nam Đồ Sơn.
Một đề xuất đáng chú ý khác của Ban quản lý dự án Đường sắt là chia Dự án thành phần 2 thành 3 dự án thành phần nhằm thuận lợi cho việc tổ chức đầu tư, quản lý và khai thác sau khi hoàn thành.
Trong đó, Dự án thành phần 2.1 có giá trị dự kiến khoảng 12.874 tỷ đồng, gồm đào tạo, mua sắm đầu máy, toa xe, đoàn tàu cùng các trang thiết bị, phương tiện duy tu, bảo dưỡng cho toàn bộ Dự án. Ban quản lý dự án Đường sắt kiến nghị giao Tập đoàn Đường sắt Quốc gia Việt Nam (VNR) làm chủ đầu tư, qua đó tận dụng năng lực, kinh nghiệm hiện có và gắn trách nhiệm của đơn vị tiếp nhận, vận hành với việc lựa chọn phương tiện, thiết bị.
Dự án thành phần 2.2 có giá trị dự kiến khoảng 4.200 tỷ đồng gổm việc đầu tư tuyến nhánh kết nối ga Nam Hải Phòng với ga Nam Đồ Sơn, do Ban quản lý dự án Đường sắt làm chủ đầu tư.
Dự án thành phần 2.3 có quy mô lớn nhất, với giá trị dự kiến khoảng 197.008 tỷ đồng, bao gồm toàn bộ các công việc còn lại sẽ vẫn do Ban quản lý dự án Đường sắt đề xuất tiếp tục làm chủ đầu tư dự án thành phần này.
Được biệt, một trong những thách thức lớn nhất đối với Dự án là điều kiện địa chất phức tạp, đặc biệt tại những khu vực chịu ảnh hưởng của các đới đứt gãy sông Hồng, sông Lô và sông Chảy.
Đã có khoảng 170 km hướng tuyến, tại khoảng 20 đoạn chủ yếu thuộc Lào Cai và Phú Thọ, đã được nghiên cứu điều chỉnh so với bước nghiên cứu tiền khả thi nhằm tối ưu phương án thiết kế, phù hợp với kết quả khảo sát địa chất và quy hoạch địa phương.
“Dù phương án hướng tuyến đã tính đến ảnh hưởng của các đới đứt gãy và yêu cầu an toàn động đất nhưng giai đoạn tiếp theo, vẫn cần tiếp tục khảo sát địa vật lý và thăm dò địa chất để xác định chi tiết vị trí tuyến, ga. Điều này có thể dẫn đến những điều chỉnh cục bộ, ảnh hưởng đến phạm vi đất đã giao cho các địa phương phục vụ giải phóng mặt bằng”, đại diện Ban quản ly dự án đường sắt cho biết.


