Đại biểu Quốc hội: Cần thống nhất một đầu mối quản lý các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất

Góp ý với dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư giao Bộ Công Thương quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, Bộ Tài chính quản lý khu kinh tế, trong khi thực tế ở các địa phương ven biển, nhiều khu công nghiệp nằm trong khu kinh tế, đại biểu Quốc hội đề nghị cân nhắc quy định một đầu mối quản lý thống nhất để tạo thuận lợi cho nhà đầu tư và hoạt động sản xuất kinh doanh.

Tham gia thảo luận tại Hội trường sáng 2/11 về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn (Đoàn ĐBQH Thành phố Hải Phòng) đánh giá cao Chính phủ và cơ quan soạn thảo đã kịp thời thể chế hóa Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời tiếp thu nghiêm túc ý kiến thảo luận tại Tổ. 

Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn, Đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng phát biểu thảo luận. (Ảnh: Quang Vinh)

Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn, Đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng phát biểu thảo luận. (Ảnh: Quang Vinh)

Quy định một đầu mối thống nhất quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế

Về các quy định cải cách thủ tục đầu tư tại Điều 28, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn cho rằng, nếu một dự án có thể được chấp thuận nhanh nhưng vẫn kéo dài nhiều năm vì các thủ tục sau thẩm định trùng lặp, trình tự chưa thống nhất thì chưa đạt mục tiêu đề ra. Rút ngắn một thủ tục mà không rút ngắn được cả chuỗi thì hiệu quả cải cách vẫn hạn chế.

Khoản 1a Điều 28 cho phép áp dụng thủ tục đầu tư đặc biệt ngoài các khu chức năng, kể cả trên quỹ đất chưa sử dụng hoặc đã thu hồi giao tổ chức phát triển quỹ đất, Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý. Đây là bước đột phá, nhưng cũng là nơi dễ phát sinh rủi ro nhất vì liên quan trực tiếp đến đất công.

Do đó, đại biểu đề nghị, một là, Luật cần phân định rõ những nội dung thực hiện theo cơ chế đặc biệt, những nội dung được tích hợp hoặc thực hiện song song, và những điều kiện bắt buộc phải hoàn thành trước khi triển khai, nhất là giao đất, cho thuê đất và đánh giá tác động môi trường.

Hai là, chỉ áp dụng đối với khu đất đã có quy hoạch chi tiết được phê duyệt và hạ tầng kỹ thuật kết nối; trường hợp có từ hai nhà đầu tư trở lên cùng quan tâm thì lựa chọn nhà đầu tư theo pháp luật về đất đai, đấu giá, đấu thầu, không theo thứ tự nộp hồ sơ.

Ba là, bổ sung nguyên tắc liên thông: kết quả thẩm định của cơ quan có thẩm quyền được các cơ quan khác sử dụng, không thẩm định lại, không yêu cầu nhà đầu tư cung cấp lại; mỗi dự án có một cơ quan đầu mối điều phối, có thời hạn giải quyết và trách nhiệm cụ thể khi chậm trễ.

Về phân cấp, phân quyền tại Điều 17a, Điều 44 và Điều 49a, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo lưu ý, chính sách hỗ trợ đào tạo lao động từ ngân sách địa phương tại Điều 17a cần gắn với ngành ưu tiên, với kết quả sử dụng lao động và thời gian duy trì hoạt động của doanh nghiệp tại địa phương; đồng thời có cơ chế phối hợp giữa các địa phương trong cùng chuỗi sản xuất liên tỉnh.

Đáng chú ý, đại biểu nêu vấn đề: Khoản 3a Điều 44 giao Bộ Công Thương quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, trong khi Bộ Tài chính quản lý khu kinh tế. Thực tế ở Hải Phòng và nhiều địa phương ven biển, nhiều khu công nghiệp nằm trong khu kinh tế, do đó đại biểu đề nghị cân nhắc quy định một đầu mối quản lý thống nhất, xác định rõ chế độ quản lý áp dụng thống nhất cho trường hợp này, để nhà đầu tư không phải nhận hướng dẫn từ hai bộ.

Ba là, Điều 49a về định hướng thu hút đầu tư theo địa bàn cần bảo đảm linh hoạt theo quy hoạch, được cập nhật khi xuất hiện điều kiện phát triển mới về hạ tầng giao thông, năng lượng, logistics. Đồng thời bổ sung nguyên tắc điều phối quốc gia, liên kết vùng và kiểm soát cạnh tranh ưu đãi giữa các địa phương. Phân cấp không có nghĩa là mỗi địa phương một chính sách thu hút đầu tư biệt lập, mà là chủ động phát huy lợi thế trong một không gian phát triển thống nhất của quốc gia.

Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn góp ý với dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư. (Ảnh: Quang Vinh)

Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn góp ý với dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư. (Ảnh: Quang Vinh)

Ưu đãi đầu tư đặc biệt phải gắn với hiệu quả thực chất

Cũng trong phát biểu thảo luận của mình, liên quan tới các quy định về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt tại Điều 17, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn nhận định, dự thảo Luật đã tập trung ưu đãi đặc biệt vào công nghệ chiến lược, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, trung tâm dữ liệu, logistics quốc tế, và gắn việc hưởng ưu đãi với cam kết chuyển giao công nghệ, nghiên cứu và phát triển, đào tạo nhân lực, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước. Đây là bước chuyển đúng hướng.

Tuy nhiên, theo đại biểu, khoản 2 Điều 17 vẫn lấy quy mô vốn và thời hạn giải ngân làm điều kiện đầu vào. Quy mô vốn là cần thiết nhưng không phản ánh chất lượng dự án. Một dự án vốn lớn nhưng dựa chủ yếu vào đất đai, năng lượng, lao động giá rẻ chưa chắc đóng góp nhiều hơn một dự án vốn vừa phải nhưng sở hữu công nghệ lõi và hình thành được hệ sinh thái doanh nghiệp. Đặc biệt, các dự án thiết kế chip, phần mềm, trí tuệ nhân tạo, nghiên cứu và phát triển - nơi tài sản chủ yếu là tri thức, rất khó đạt ngưỡng vốn nếu tính theo tài sản cố định.

Do đó, đại biểu đề nghị Luật quy định nguyên tắc: ngưỡng vốn được xác định riêng theo từng nhóm lĩnh vực; chi phí nghiên cứu và phát triển, chi phí nhân lực trình độ cao được tính vào quy mô đầu tư; quy mô vốn phải kết hợp với trình độ công nghệ, giá trị gia tăng trong nước, hiệu quả sử dụng tài nguyên, năng lượng và mức độ liên kết.

Bên cạnh đó, đối với quy định tại điểm c khoản 4 Điều 17 về thu hồi ưu đãi, đại biểu đồng tình với nguyên tắc bắt buộc thu hồi, nhưng đề nghị thiết kế cơ chế xử lý tương xứng. "Cố ý kê khai không trung thực hoặc không thực hiện cam kết thì phải thu hồi toàn bộ; chậm thực hiện do nguyên nhân khách quan, do biến động lớn của thị trường và công nghệ thì điều chỉnh mức ưu đãi, thu hồi phần tương ứng với nghĩa vụ chưa thực hiện. Có như vậy, chính sách mới vừa nghiêm, vừa khả thi, và không đẩy cơ quan thực thi vào thế phải lựa chọn tùy nghi", đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn phân tích.

Góp ý về chính sách thu hút FDI thế hệ mới, đại biểu cho rằng thu hút được các tập đoàn lớn là thành công bước đầu; để doanh nghiệp Việt Nam thực sự tham gia vào chuỗi giá trị của các tập đoàn đó mới là thành công có ý nghĩa lâu dài. Nếu chỉ thu hút được vốn, nhà xưởng và lao động, trong khi công nghệ, thiết kế, linh kiện cốt lõi và phần lớn giá trị gia tăng vẫn nằm ngoài nền kinh tế, thì tác động lan tỏa sẽ rất hạn chế. 

Theo đại biểu, khoản 5 Điều 5 mới dừng ở việc khuyến khích doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài công bố nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật và lộ trình nội địa hóa. Công bố thông tin là cần thiết nhưng chưa đủ; vấn đề quyết định là năng lực đáp ứng của doanh nghiệp trong nước.

Do đó, đại biểu đề nghị, thứ nhất, nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật đã công bố được đăng tải trên Cổng một cửa đầu tư quốc gia và doanh nghiệp trong nước được khai thác miễn phí; dự án đề nghị hỗ trợ chi phí phát triển nhà cung ứng theo điểm đ khoản 6 Điều 17 thì việc công bố là điều kiện để được hỗ trợ.

Hai là, theo điểm đ khoản 6 Điều 17, việc lựa chọn doanh nghiệp trong nước được hỗ trợ hiện do doanh nghiệp đầu chuỗi quyết định. Đại biểu đề nghị bổ sung yêu cầu công khai doanh nghiệp thụ hưởng, nội dung năng lực được nâng cao và chi phí tương ứng; có cơ chế tham gia của hiệp hội ngành nghề, ưu tiên doanh nghiệp nhỏ và vừa có tiềm năng, tránh để chính sách chỉ phục vụ một số doanh nghiệp đã có quan hệ sẵn với nhà đầu tư lớn.

Cũng theo tinh thần đó, chính sách hỗ trợ chi phí tạo tài sản cố định từ lợi nhuận tái đầu tư tại điểm e khoản 6 Điều 17 hiện chỉ áp dụng cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong khi doanh nghiệp trong nước cũng đứng trước lựa chọn chia lợi nhuận hay tái đầu tư. Đại biểu đề nghị áp dụng bình đẳng cho mọi doanh nghiệp thuộc diện ưu đãi đặc biệt sử dụng lợi nhuận sau thuế để tái đầu tư, phù hợp với nguyên tắc Nhà nước đối xử bình đẳng giữa các nhà đầu tư tại khoản 5 Điều 5 và Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân.

Việt Hằng

Nguồn Tạp chí Công thương: https://tapchicongthuong.vn/dai-bieu-quoc-hoi--can-thong-nhat-mot-dau-moi-quan-ly-cac-khu-cong-nghiep--khu-kinh-te--khu-che-xuat-563026.htm