Đại biểu Quốc hội đề nghị làm rõ tỷ lệ bảo đảm thu hồi tài sản tham nhũng, kinh tế
Chiều 11-8, tiếp tục chương trình kỳ họp không thường lệ thứ nhất, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở hội trường dự án Nghị quyết của Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án.
6 năm chưa xử lý trường hợp nào không chấp hành án hành chính

Các đại biểu Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Nghị quyết của Quốc hội. Ảnh: Quochoi.vn
Thảo luận tại hội trường về chỉ tiêu thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế tại điểm k khoản 1 Điều 2, đại biểu Đặng Bích Ngọc (Đoàn Phú Thọ) cho rằng, cần phân biệt rõ tỷ lệ thu hồi tài sản thực tế với tỷ lệ bảo đảm thu hồi trong giai đoạn điều tra.
Theo đại biểu, trong giai đoạn điều tra, kết quả cần được đánh giá trên cơ sở tiền, tài sản đã được phát hiện, xác minh, truy tìm, tạm giữ, phong tỏa, kê biên. Việc thu hồi, trả lại hoặc xử lý tài sản còn phụ thuộc vào kết quả truy tố, xét xử và thi hành án.
Vì vậy, đại biểu đề nghị các cơ quan điều tra, thanh tra, Kiểm toán Nhà nước, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và cơ quan thi hành án phối hợp chặt chẽ trong phòng ngừa, phát hiện, xử lý và áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật để bảo đảm thu hồi tiền, tài sản trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế đạt trên 60%. Trong đó, tại giai đoạn điều tra, tỷ lệ bảo đảm thu hồi tiền, tài sản đạt từ 65% trở lên trong tổng tỷ lệ 60% nêu trên.

Đại biểu Quốc hội Đặng Bích Ngọc (Đoàn Phú Thọ) phát biểu thảo luận. Ảnh: Quochoi.vn
Về chỉ tiêu quản lý người bị tạm giữ, tạm giam và phạm nhân, đại biểu đề nghị lựa chọn phương án theo hướng hạn chế đến mức thấp nhất trường hợp người bị tạm giữ, tạm giam, phạm nhân trốn khỏi cơ sở giam giữ và bảo đảm bắt lại 100% số người trốn. Theo đại biểu, phương án này vừa thể hiện đầy đủ trách nhiệm quản lý, phòng ngừa của cơ sở giam giữ, vừa bảo đảm tính khả thi khi đánh giá trong thực tiễn.
Đại biểu cho rằng, quy định “không để xảy ra trường hợp do thiếu trách nhiệm của cơ sở giam giữ dẫn đến người bị tạm giữ, tạm giam, phạm nhân trốn khỏi cơ sở giam giữ” là chỉ tiêu tuyệt đối. Tuy nhiên, việc xác định có hay không có thiếu trách nhiệm phải thông qua kiểm tra, thanh tra hoặc xem xét từng vụ việc cụ thể. Bên cạnh đó, cần quy định hạn chế đến mức thấp nhất vi phạm chế độ quản lý giam giữ, chế độ đối với người bị tạm giữ, tạm giam do nguyên nhân chủ quan.
Góp ý về công tác thi hành án hành chính tại Điều 5, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn Hải Phòng) đề nghị, quan tâm hơn đến khoảng cách giữa quy định về trách nhiệm và việc thực thi trách nhiệm trên thực tế. Theo kết quả tổng kết thực hiện Nghị quyết số 96, tỷ lệ thi hành án hành chính trong 6 năm từ 2020 đến 2025 lần lượt là 43,73%; 48,19%; 43,24%; 42,32%; 45,41% và 41,37%.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn Hải Phòng) phát biểu. Ảnh: Quochoi.vn
Đại biểu cho rằng, tỷ lệ này không những còn thấp mà chưa cho thấy xu hướng cải thiện rõ rệt. Đáng chú ý, Nghị quyết số 96/2019/QH14 về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện Kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án cũng đã yêu cầu xử lý trách nhiệm đối với Chủ tịch UBND, UBND các cấp không chấp hành án hành chính, nhưng kết quả tổng kết cả 6 năm đều ghi nhận chưa xử lý trường hợp nào, mặc dù đã có nhiều kiến nghị.
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga đồng tình với quan điểm Nghị quyết không nên lặp lại những quy định pháp luật đã có. “Nếu pháp luật đã quy định, Nghị quyết số 96 cũng đã yêu cầu, nhiều kiến nghị xử lý đã được ban hành mà vẫn chưa xử lý trường hợp nào, thì điểm nghẽn thực sự nằm ở đâu?”, đại biểu đặt vấn đề.
Cùng với đó, đại biểu cũng phân tích, án hành chính có tính chất đặc thù. Khi một bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bên phải thi hành là cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước lại chậm hoặc không chấp hành, không chỉ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân chưa được bảo đảm mà hiệu lực của phán quyết tư pháp và tính gương mẫu tuân thủ pháp luật của cơ quan công quyền cũng bị ảnh hưởng.
Vì vậy, đại biểu đề nghị không nhất thiết bổ sung thêm quy định trùng với luật, nhưng trong cơ chế báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết cần làm rõ số bản án hành chính chậm, chưa được thi hành; nguyên nhân; số trường hợp có dấu hiệu phải xem xét trách nhiệm; số trường hợp đã xem xét và kết quả xử lý. “Quốc hội cần nhìn thấy không chỉ tỷ lệ thi hành án tăng hay giảm, mà cả việc trách nhiệm đã được xác định và thực hiện đến đâu”, đại biểu nhấn mạnh.
Cân nhắc chỉ tiêu định lượng để không ảnh hưởng chất lượng xét xử

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Xuân Kỳ (Đoàn thành phố Hà Nội) phát biểu. Ảnh: Quochoi.vn
Góp ý về chỉ tiêu tỷ lệ giải quyết, xét xử các vụ án hình sự, vụ việc dân sự, vụ án hành chính quy định tại điểm a khoản 1 Điều 4 dự thảo Nghị quyết, đại biểu Nguyễn Xuân Kỳ (Đoàn thành phố Hà Nội) đề nghị cân nhắc việc quy định chỉ tiêu mang tính định lượng để đánh giá hoạt động của Tòa án trên cơ sở chất lượng xét xử và việc tuân thủ thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật.
Theo đại biểu, pháp luật tố tụng đã quy định chặt chẽ về thời hạn giải quyết từng vụ án. Nếu đồng thời quy định tỷ lệ giải quyết về số lượng, nhất là vào thời điểm cuối kỳ báo cáo, có thể tạo áp lực giải quyết theo chỉ tiêu, ảnh hưởng đến thời gian nghiên cứu và chất lượng bản án, quyết định.
Đại biểu cũng chỉ ra rằng trên thực tế có nhiều vụ án kéo dài do nguyên nhân khách quan như phải chờ giám định, định giá tài sản, ủy thác tư pháp với nước ngoài. Những yếu tố này ảnh hưởng đến thời gian giải quyết mà không hoàn toàn phụ thuộc vào sự chủ động của Tòa án.
Từ những lý do trên, đại biểu đề nghị cân nhắc điều chỉnh chỉ tiêu mang tính định lượng. Trường hợp Quốc hội quyết định lựa chọn chỉ tiêu, đại biểu đề nghị bổ sung cụm từ “trừ trường hợp do nguyên nhân khách quan”, đồng thời chỉ xác định mục tiêu để giải quyết, bảo đảm tính khả thi và phản ánh chất lượng giải quyết.
Về tỷ lệ án, quyết định bị hủy, sửa quy định tại điểm b khoản 1 Điều 4, đại biểu Nguyễn Xuân Kỳ đề nghị giữ nguyên tỷ lệ án bị hủy, sửa tối đa nhưng cần tính đến tổng số vụ án và vụ việc mà Tòa án đã giải quyết. Theo đại biểu, ngoài xét xử các vụ án, Tòa án còn phải giải quyết khối lượng lớn các công việc khác như áp dụng biện pháp xử lý hành chính, đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, công nhận kết quả hòa giải, đối thoại thành và các công việc khác.
Theo đại biểu, các công việc này đều phải tuân thủ trình tự luật định chặt chẽ, áp lực cao và có thể vẫn bị xem xét lại. Nếu không đưa các vụ việc này vào tổng số vụ việc giải quyết thì chưa phản ánh đầy đủ, chính xác khối lượng và chất lượng công việc thực tế của Tòa án.

Đại biểu Quốc hội Lê Văn Đông (Đoàn thành phố Hồ Chí Minh) phát biểu. Ảnh: Quochoi.vn
Góp ý về các chỉ tiêu, nhiệm vụ trong công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật tại Điều 2 dự thảo Nghị quyết, đại biểu Lê Văn Đông (Đoàn thành phố Hồ Chí Minh) tập trung vào chỉ tiêu liên quan đến việc tạm đình chỉ vụ án. Đại biểu thống nhất với chủ trương phải tăng cường quản lý, giám sát để chống bỏ lọt tội phạm, tuy nhiên, việc ấn định tỷ lệ giảm 5% là chưa phù hợp.
Theo đại biểu, để giảm án tạm đình chỉ, các cơ quan tiến hành tố tụng phải rút ngắn thời gian quyết định tạm đình chỉ và tăng cường phục hồi điều tra. Trong khi đó, theo quy định pháp luật, căn cứ để tạm đình chỉ cũng như căn cứ phục hồi để giải quyết phải tuân thủ pháp luật và phụ thuộc vào những căn cứ khách quan của vụ án, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của cơ quan tiến hành tố tụng.
Đại biểu đề nghị Quốc hội xem xét không ấn định tỷ lệ phần trăm giảm án tạm đình chỉ, mà quy định rõ không để xảy ra trường hợp tạm đình chỉ, đình chỉ không đúng quy định của pháp luật; thường xuyên rà soát, tích cực xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và vụ án đã tạm đình chỉ để kịp thời phục hồi, giải quyết khi lý do tạm đình chỉ không còn.









