Đại biểu Quốc hội đề nghị nâng độ tuổi được mua, sử dụng thuốc lá lên 21 tuổi
Thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, các đại biểu Quốc hội đề nghị nâng độ tuổi được mua, sử dụng thuốc lá; hoàn thiện quy định về quản lý sản xuất, kinh doanh và kiểm soát các sản phẩm thuốc lá, cơ chế quản lý thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng...
Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, sáng ngày 21/10, các đại biểu Quốc hội (ĐBQH) thảo luận tại Tổ về các dự án Luật thuộc các lĩnh vực y tế, lao động, trong đó có dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá.
Đề nghị nâng độ tuổi được mua, sử dụng thuốc lá
Đóng góp ý kiến đối với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá tại phiên thảo luận của Tổ 5 (Đoàn ĐBQH thành phố Quảng Ninh, tỉnh Cao Bằng và thành phố Đà Nẵng), đại biểu Nguyễn Hải Long, Đoàn ĐBQH thành phố Đà Nẵng tán thành việc dự thảo Luật tăng trách nhiệm của người bán, yêu cầu kiểm tra căn cước, VNeID, cấm bán thuốc lá trên nền tảng số, cấm trưng bày sản phẩm.
Nhận định đây là những bước tiến so với Luật năm 2012, tuy nhiên, đại biểu cho rằng các biện pháp này vẫn dừng ở mốc 18 tuổi, trong khi số liệu cho thấy mốc 18 tuổi chưa bảo vệ được lứa tuổi dễ bắt đầu hút thuốc nhất.

Đại biểu Nguyễn Hải Long, Đoàn ĐBQH thành phố Đà Nẵng đóng góp ý kiến đối với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá. (Ảnh: Xuân Quý)
Đại biểu Nguyễn Hải Long phân tích, trước 18 tuổi, phần lớn các em còn sống cùng bố mẹ, đi học phổ thông, có gia đình và thầy cô quản lý, ít tiền riêng, nên tỷ lệ hút thuốc còn thấp. Qua tuổi 18, hoàn cảnh của các em thay đổi cùng một lúc. Nhiều em rời gia đình lên thành phố học đại học, ở ký túc xá, nhà trọ; nhiều em đi làm, có đồng lương đầu tiên. Không có bố mẹ bên cạnh, có tiền riêng, sống trong nhóm bạn mới, lại được pháp luật cho phép mua, thì việc bắt đầu hút thuốc rất dễ xảy ra.
Kết quả là tỷ lệ hút thuốc ở nam giới tăng từ 5,46% ở tuổi 15-19 lên 32,6% ở tuổi 20-24, gấp gần 6 lần, và khoảng một nửa số nam giới đang hút hằng ngày bắt đầu hút từ 19 tuổi trở lên.
Sau 21 tuổi, phần lớn thanh niên đã ra trường, có việc làm, chuẩn bị lập gia đình; tâm lý ổn định hơn, ít bị bạn bè lôi kéo và biết cân nhắc lợi hại hơn, xác suất bắt đầu hút thuốc sau 21 tuổi thấp hơn nhiều so với lứa tuổi trước đó.
“Ở Hoa Kỳ, khoảng 95% người hút thuốc bắt đầu trước 21 tuổi; ở Singapore, gần 95% người hút thuốc hút điếu đầu tiên trước 21 tuổi. Như vậy, từ 18 đến 21 tuổi là giai đoạn dễ bắt đầu hút thuốc nhất, và đây lại là giai đoạn Luật hiện hành và dự thảo chưa bảo vệ. Thanh niên chưa hút thuốc đến 21 tuổi thì phần lớn sẽ không hút thuốc suốt đời”, đại biểu Nguyễn Hải Long khẳng định và đề nghị nâng độ tuổi được mua, sử dụng thuốc lá lên 21 tuổi. “Chỉ ba năm trong luật nhưng bảo vệ sức khỏe nhiều thế hệ người Việt Nam”, đại biểu nêu rõ.
Dẫn chứng kinh nghiệm quốc tế, đại biểu Nguyễn Hải Long cho biết mô hình của Viện Y học Hoa Kỳ chứng minh việc nâng độ tuổi lên 21 giúp giảm tỷ lệ hút thuốc tới 12%, hiệu quả gấp 4 lần so với chỉ nâng lên 19 tuổi. Hiện tại, đã có ít nhất 15 quốc gia (trong đó có Singapore) áp dụng mốc 21 tuổi và đạt được những cải thiện rõ rệt.
Hoàn thiện quy định về quản lý sản xuất, kinh doanh và kiểm soát các sản phẩm thuốc lá
Thảo luận tại Tổ 16 về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, các đại biểu thuộc Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lai Châu và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang đề nghị hoàn thiện quy định về bảo vệ các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, tăng cường quản lý các sản phẩm thuốc lá.
Đại biểu Cà Thị Thắm, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lai Châu bày tỏ cơ bản nhất trí với sự cần thiết ban hành Luật nhằm khắc phục những bất cập trong thực tiễn, hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo vệ sức khỏe người dân.
Nghiên cứu khoản 4 Điều 3 của dự thảo Luật, nhằm bảo đảm thực hiện chính sách dân tộc, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo bổ sung cụm từ “người dân tộc thiểu số” vào quy định này. Theo đó, đại biểu đề xuất chỉnh lý thành: “Bảo đảm quyền của mọi người, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em, người dân tộc thiểu số và các đối tượng dễ bị tổn thương, được sống, làm việc trong môi trường không có khói thuốc lá; được thông tin đầy đủ về tác hại của thuốc lá, bao gồm cả thông tin bằng tiếng dân tộc với nội dung và hình thức phù hợp với đồng bào dân tộc thiểu số”.
Theo đại biểu, thực tế, đồng bào tại nhiều địa bàn còn gặp khó khăn về ngôn ngữ, điều kiện kinh tế, địa lý và khả năng tiếp cận thông tin. Vì vậy, việc quy định rõ đối tượng sẽ tạo cơ sở để triển khai các hoạt động truyền thông phù hợp với ngôn ngữ, văn hóa và điều kiện thực tế, góp phần nâng cao nhận thức, phòng ngừa tác hại của thuốc lá và bảo đảm chính sách được thực hiện hiệu quả.

Đại biểu Cà Thị Thắm, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lai Châu phát biểu thảo luận tại Tổ 16. (Ảnh: Quochoi.vn)
Đại biểu Cà Thị Thắm cũng cho biết, dự thảo Luật yêu cầu các cơ sở sản xuất, kinh doanh những sản phẩm này phải công bố tiêu chuẩn, áp dụng theo quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Tuy nhiên, hồ sơ thẩm tra hiện chưa có quy chuẩn kỹ thuật tương ứng đối với các sản phẩm nêu trên.
Từ thực tế đó, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ căn cứ, tiêu chí để các cơ sở xây dựng và công bố tiêu chuẩn áp dụng; đồng thời đánh giá tính khả thi, chi phí tuân thủ và trách nhiệm kiểm tra, xử lý vi phạm.
“Đặc biệt, cần đánh giá tác động đối với các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ, hộ gia đình và cơ sở tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, đảm bảo quy định rõ ràng, dễ thực hiện, chi phí tuân thủ phù hợp, không tạo thêm khó khăn cho người dân và cơ sở sản xuất, kinh doanh”, đại biểu nhấn mạnh.
Kiểm soát năng lực sản xuất và nguồn cung thuốc lá
Nhấn mạnh vấn đề kiểm soát năng lực sản xuất và nguồn cung thuốc lá, đại biểu Trương Hồ Hải, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang, đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc giữ quy định về quản lý năng lực máy, thiết bị chuyên ngành thuốc lá và tiếp tục quản lý giấy cuốn điếu thuốc lá.
Theo đại biểu, phòng, chống tác hại của thuốc lá phải được thực hiện đồng thời bằng hai nhóm giải pháp: giảm nhu cầu sử dụng và kiểm soát nguồn cung. Nếu chỉ chú trọng giảm nhu cầu mà không kiểm soát năng lực sản xuất, sản lượng thuốc lá đưa ra thị trường vẫn có thể gia tăng.
Vì vậy, kiểm soát nguồn cung không thể chỉ dừng ở việc quản lý từng máy móc, thiết bị riêng lẻ mà phải hướng đến kiểm soát tổng năng lực sản xuất, công suất dây chuyền và sản lượng thực tế.
“Quản lý máy móc là công cụ; kiểm soát năng lực sản xuất và sản lượng mới là mục tiêu. Nếu chỉ quản lý việc đầu tư, nhập khẩu hoặc sử dụng từng thiết bị mà không kiểm soát tổng công suất, việc thay thế máy móc, nâng cấp dây chuyền hoặc tổ chức lại sản xuất vẫn có thể làm gia tăng sản lượng”, đại biểu Trương Hồ Hải nêu ý kiến.
Đối với giấy cuốn điếu thuốc lá, đại biểu Trương Hồ Hải cho rằng đây là đầu vào trực tiếp của quá trình sản xuất thuốc lá điếu. Việc quản lý loại nguyên liệu này giúp cơ quan nhà nước theo dõi, đối chiếu lượng đầu vào với năng lực sản xuất và sản lượng thành phẩm; đồng thời hỗ trợ truy xuất chuỗi cung ứng, phát hiện dấu hiệu sản xuất vượt mức hoặc không được kiểm soát.
Bên cạnh đó, đại biểu đề nghị hoàn thiện khái niệm “nguyên liệu thuốc lá” tại điểm b khoản 3 Điều 2 của dự thảo Luật. Cụ thể, cần nghiên cứu bổ sung rõ nhóm chất không chứa nicotine được sản xuất hoặc sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng và các dạng thuốc lá khác thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật.
Theo đại biểu, nếu khái niệm nguyên liệu thuốc lá chỉ bao quát các chất có chứa nicotine thì có thể phát sinh khoảng trống pháp lý đối với sản phẩm thuốc lá điện tử không chứa nicotine. Trong khi đó, khái niệm nguyên liệu lại liên quan trực tiếp đến việc xác định phạm vi sản phẩm thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật. “Định nghĩa nguyên liệu quá hẹp có thể dẫn đến phạm vi điều chỉnh của Luật không bao quát đầy đủ các sản phẩm cần quản lý”, đại biểu lưu ý.

Đại biểu Phạm Văn Thắng, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang phát biểu. (Ảnh: Quochoi.vn)
Hoàn thiện cơ chế quản lý thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng
Cho ý kiến về quy định cấm toàn diện thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng và các sản phẩm thuốc lá mới tại Điều 2 và Điều 9 của dự thảo Luật, đại biểu Phạm Văn Thắng, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang, đánh giá cao việc dự thảo đã luật hóa lệnh cấm tuyệt đối đối với các hành vi sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, tàng trữ, vận chuyển và sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng, shisha và túi ngậm nicotine; đồng thời đồng bộ hóa ngay với danh mục ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh tại Luật Đầu tư. “Đây là lá chắn pháp lý quan trọng để bảo vệ thế hệ trẻ trước nguy cơ ma túy núp bóng dung dịch điện tử”, đại biểu nhấn mạnh.
Để bảo đảm pháp luật đáp ứng được sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo quy định rõ hơn cơ chế phối hợp liên ngành, tạo điều kiện để Chính phủ kịp thời nhận diện và cập nhật các biến thể sản phẩm chứa nicotine thế hệ mới phát sinh trong thực tiễn mà không phải chờ sửa luật.
Đối với quy định cấm trưng bày thuốc lá thông thường và kiểm soát độ tuổi người mua bằng VNeID, đại biểu cho biết dự thảo bổ sung hành vi bị nghiêm cấm là “trưng bày thuốc lá thông thường” tại các điểm bán, đồng thời yêu cầu người bán kiểm tra căn cước hoặc ứng dụng VNeID khi nghi ngờ người mua dưới 18 tuổi.
Đại biểu Phạm Văn Thắng bày tỏ hoàn toàn ủng hộ mục tiêu giảm tính sẵn có và sức hấp dẫn thị giác của thuốc lá. Tuy nhiên, theo đại biểu, cả nước hiện có nhiều điểm bán lẻ là tiệm tạp hóa nhỏ lẻ, hộ kinh doanh gia đình. Nếu việc kiểm tra VNeID hoặc xóa bỏ hoàn toàn tủ trưng bày tại các điểm bán này không có hướng dẫn cụ thể, quy định sẽ khó đi vào thực tiễn.
Từ đó, đại biểu kiến nghị cần có lộ trình chuyển đổi hợp lý, quy định rõ quy cách lưu giữ thuốc lá kín đáo tại điểm bán, đồng thời gắn trách nhiệm hậu kiểm trực tiếp cho chính quyền cơ sở.

