Đại biểu Quốc hội đề xuất siết giám sát tài sản mã hóa để kiểm soát rủi ro rửa tiền

Thảo luận về sửa đổi Luật Phòng, chống rửa tiền, các đại biểu Quốc hội đánh giá cao việc bổ sung quy định đối với tài sản mã hóa, đề nghị tiếp tục hoàn thiện các công cụ nhận diện giao dịch đáng ngờ, xây dựng năng lực điều tra tài chính số, và phân định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước của các bộ, ngành trong lĩnh vực này.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng điều hành nội dung thảo luận. (Ảnh: DUY LINH)

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng điều hành nội dung thảo luận. (Ảnh: DUY LINH)

Sáng 9/8, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng.

Các ý kiến phát biểu đều bày tỏ nhất trí cao với sự cần thiết ban hành luật nhằm kịp thời xử lý những vướng mắc phát sinh trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy, hoàn thiện cơ chế quản lý ngoại hối, cơ chế tài chính, thanh tra, giám sát ngân hàng, tiếp tục cụ thể hóa chuẩn mực quốc tế về phòng, chống rửa tiền, đồng thời tạo cơ sở pháp lý xử lý một số vấn đề phát sinh trong hoạt động ngân hàng và thị trường trái phiếu doanh nghiệp.

Kiểm soát rủi ro rửa tiền liên quan tài sản mã hóa

Quan tâm đến nội dung sửa đổi Luật Phòng, chống rửa tiền, đại biểu Trịnh Thị Tú Anh (Đoàn Lâm Đồng) đánh giá cao việc ban soạn thảo đã đưa 15 dấu hiệu đáng ngờ liên quan tài sản mã hóa vào dự thảo luật tại Điều 33a.

Theo đại biểu, đây là bước tiến quan trọng trong việc cụ thể hóa Khuyến nghị 15 của Lực lượng đặc nhiệm tài chính quốc tế (FATF) và tạo cơ sở pháp lý cho việc nhận diện, đánh giá và kiểm soát rủi ro rửa tiền liên quan tài sản mã hóa.

Tuy nhiên, đại biểu Tú Anh cho rằng 15 dấu hiệu giao dịch đáng ngờ trong dự thảo hiện chưa được phân nhóm và đang được liệt kê khá dàn trải. Đại biểu đề nghị hệ thống lại những dấu hiệu này theo từng nhóm để điều khoản rõ ràng và logic hơn. Chẳng hạn, có thể phân thành các nhóm như:

Nhóm chỉ báo ngoài chuỗi (off-chain): liên quan định danh và hành vi truy cập sử dụng IP, VPN ẩn danh, thiết bị trùng lặp, mở nhiều tài khoản P2P hoặc né tránh quy tắc nhận biết và thẩm định khách hàng (KYC/CDD).

Nhóm chỉ báo trên chuỗi (on-chain): phản ánh trực tiếp cấu trúc và lịch sử dịch chuyển của tài sản trên sổ cái phân tán, chẳng hạn như sử dụng dịch vụ trộn tiền, phân tách dòng tiền qua nhiều địa chỉ ví, sử dụng các công nghệ tăng cường tính riêng tư, hoặc chuyển tài sản qua cầu nối liên chuỗi.

Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh. (Ảnh: DUY LINH)

Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh. (Ảnh: DUY LINH)

Nhóm chỉ báo về nhà cung cấp dịch vụ tài sản ảo (VASP) và địa chỉ ví: như giao dịch liên quan nền tảng cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa không được cấp phép, địa chỉ thuộc danh sách trừng phạt hoặc có liên hệ với các khu vực tài phán có rủi ro cao.

Cũng theo đại biểu đoàn Lâm Đồng, hệ sinh thái Web3 và DeFi đang phát triển rất nhanh, cùng với đó là các mô hình giao dịch mới, các giao thức mới và phương thức mới để che giấu hoặc phân tán dòng tiền. Trí tuệ nhân tạo (AI) cũng đang được sử dụng ngày càng nhiều để tự động hóa các hoạt động giao dịch và có thể làm thay đổi đáng kể mô hình rủi ro.

Do vậy, bên cạnh các dấu hiệu được quy định cụ thể trong luật, đại biểu đề nghị cần có một khoản mở giao cho Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định bổ sung các dấu hiệu giao dịch đáng ngờ liên quan tài sản mã hóa theo từng thời kỳ.

Một kiến nghị nữa được đại biểu Tú Anh đưa ra là cần hình thành năng lực phân tích và điều tra tài chính số. Đại biểu nêu rõ, một hệ thống giám sát tốt cũng chưa đủ nếu cơ quan tiếp nhận và xử lý báo cáo giao dịch đáng ngờ không có năng lực phân tích tương ứng. Một báo cáo giao dịch đáng ngờ liên quan tài sản mã hóa có cấu trúc rất khác một giao dịch ngân hàng thông thường. Ngoài thông tin về chủ thể và giao dịch, cơ quan phân tích có thể phải xử lý lịch sử giao dịch trên chuỗi, sự kiện của hợp đồng thông minh, dòng dịch chuyển token và quan hệ giữa hàng nghìn, thậm chí hàng triệu địa chỉ ví.

Vì vậy, phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực này không thể chỉ dựa trên phương pháp AML truyền thống, mà cần bổ sung năng lực phân tích blockchain, điều tra tài chính số và pháp chứng kỹ thuật số. Trên cơ sở đó, đại biểu đề nghị nghiên cứu cơ chế thu hút và sử dụng nhân lực chuyên môn cao về pháp chứng và điều tra trên chuỗi khối, phân tích dữ liệu và điều tra tài chính số cho các đơn vị có chức năng phòng, chống rửa tiền và điều tra tội phạm tài chính công nghệ cao.

"Đối với tài sản mã hóa, chúng ta cần chuyển từ tư duy "quy định phải phát hiện dấu hiệu nào" sang tư duy đầy đủ hơn là "phát hiện bằng dữ liệu nào, bằng công cụ nào và ai có năng lực phân tích kết quả đó". Nếu thiếu một trong 3 yếu tố này, quy định rất dễ dừng lại ở yêu cầu tuân thủ trên văn bản", đại biểu Tú Anh nói.

Quy định rõ nghĩa vụ đặc thù đối với nhà cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa

Có chung mối quan tâm, đại biểu Nguyễn Minh Đức (Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh) nhất trí việc dự thảo Luật bổ sung quy định về dịch vụ tài sản mã hóa bởi đã đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, đặc biệt trong bối cảnh tội phạm công nghệ cao, các dòng tiền ẩn danh ngày càng tinh vi.

Để lấp khoảng trống phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực công nghệ cao và tránh độ vênh giữa các luật, đại biểu kiến nghị cần bổ sung điều khoản dẫn chiếu rõ ràng các khái niệm về tài sản số, tài sản mã hóa và dịch vụ tài sản mã hóa áp dụng theo quy định tại Luật Công nghiệp công nghệ số và Bộ luật Dân sự.

Cùng với đó, cần quy định rõ nghĩa vụ đặc thù đối với nhà cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa. Theo đó, bắt buộc các tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa phải tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn kỹ thuật bao gồm: thực hiện quy trình nhận biết và xác minh danh tính khách hàng; áp dụng quy tắc lữ hành đối với mọi giao dịch chuyển giao tài sản mã hóa để lưu trữ và minh bạch thông tin người gửi, người nhận; thiết lập chế độ lưu trữ nhật ký giao dịch trên blockchain và báo cáo kịp thời các giao dịch có giá trị lớn hoặc giao dịch đáng ngờ.

Các đại biểu dự phiên thảo luận sáng 9/8. (Ảnh: DUY LINH)

Các đại biểu dự phiên thảo luận sáng 9/8. (Ảnh: DUY LINH)

Các biện pháp ngăn chặn, phong tỏa hay xử lý tài sản phòng, chống rửa tiền đối với loại tài sản phi tập trung này phải tuân thủ các nguyên tắc bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp theo pháp luật dân sự, đồng thời trao quyền rõ ràng, minh bạch cho các cơ quan chức năng.

Đại biểu Đức cũng kiến nghị phân định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước của các bộ, ngành trong lĩnh vực này. Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cần phải quy định rõ về việc chủ trì phối hợp thực hiện đánh giá rủi ro quốc gia về rửa tiền và là đầu mối tiếp nhận, quản lý các cơ sở dữ liệu về báo cáo giao dịch đáng ngờ từ các nhà cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa.

Đối với Bộ Tài chính, chịu trách nhiệm chủ trì quản lý nhà nước đối với thị trường tài sản mã hóa và hoạt động của các tổ chức cung cấp dịch vụ tiền mã hóa và trực tiếp thanh tra, giám sát việc tuân thủ các quy định phòng, chống rửa tiền. Bộ Công an thẩm định an ninh hệ thống thông tin của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ; chủ trì xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng tài sản mã hóa để rửa tiền, tài trợ khủng bố; có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn, điều tra, phong tỏa, tịch thu tài sản. Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp quản lý về mặt hạ tầng công nghệ, không gian mạng và các giải pháp kỹ thuật liên quan công nghệ chuỗi khối và hỗ trợ truy vết các giao dịch ẩn danh.

"Việc hoàn thiện đồng bộ khung pháp lý phòng, chống rửa tiền đối với tài sản mã hóa cùng với cơ chế phân công nhiệm vụ rạch ròi giữa các bộ, ngành sẽ tạo nên một bức tường phòng thủ vững chắc, qua đó giúp Việt Nam vừa phát triển kinh tế số an toàn, minh bạch, vừa thực thi nghiêm túc các chuẩn mực quốc tế để sớm đưa nước ta ra khỏi danh sách theo dõi của FATF", đại biểu nhấn mạnh.

VĂN TOẢN

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/dai-bieu-quoc-hoi-de-xuat-siet-giam-sat-tai-san-ma-hoa-de-kiem-soat-rui-ro-rua-tien-post980728.html