Đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang thảo luận tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI

Chiều 3-8, theo chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan; Dự án Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục IV về danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư; Dự án Nghị quyết của Quốc hội quy định cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện các dự án, công trình phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027 tại Đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang.

Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang và các tỉnh tham gia thảo luận tại tổ 16.

Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang và các tỉnh tham gia thảo luận tại tổ 16.

Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang khóa XVI tham gia thảo luận tại tổ 16 cùng với các Đoàn ĐBQH các tỉnh Cao Bằng, Đắk Lắk, Tuyên Quang.

Đại biểu Lý Thị Lan: Đổi mới mô hình hải quan khu vực gắn với cơ chế phối hợp linh hoạt tại địa phương

Đại biểu Lý Thị Lan, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Trưởng đoàn ĐBQH chuyên trách khóa XVI tỉnh cơ bản thống nhất với sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Luật Hải quan nhằm đáp ứng yêu cầu sắp xếp tổ chức bộ máy, đẩy mạnh chuyển đổi số, hiện đại hóa hải quan và tạo thuận lợi thương mại.

Đại biểu Lý Thị Lan thảo luận tại tổ 16.

Đại biểu Lý Thị Lan thảo luận tại tổ 16.

Từ thực tiễn hoạt động của Chi cục Hải quan khu vực XVI, hiện quản lý nhà nước về hải quan trên địa bàn hai tỉnh Cao Bằng và Tuyên Quang, đại biểu cho biết đây là địa bàn biên giới rộng, có nhiều cửa khẩu, địa hình phức tạp, khoảng cách giữa các địa bàn lớn. Theo đại biểu, việc sửa đổi Luật không chỉ dừng ở việc thay đổi tên gọi của các cơ quan sau sắp xếp mà cần bảo đảm mô hình Hải quan khu vực có đủ năng lực quản lý và giải quyết công việc trực tiếp tại từng địa bàn, từng cửa khẩu.

Đại biểu đề nghị rà soát, làm rõ việc phân cấp, phân quyền giữa Chi cục Hải quan khu vực và Hải quan trực tiếp tại địa bàn, cửa khẩu, nhất là các quy định tại Điều 79 về kiểm tra sau thông quan và các nội dung liên quan đến quyết định kiểm tra, xử lý vi phạm, giải quyết thủ tục cho doanh nghiệp.

Theo đó, những công việc phát sinh thường xuyên tại địa bàn, cửa khẩu cần được giao đủ thẩm quyền cho Hải quan trực tiếp tại địa bàn giải quyết; chỉ những vấn đề thực sự cần thiết mới tập trung lên Chi cục Hải quan khu vực.

Luật cần xác định rõ nguyên tắc phân cấp, ủy quyền trong hệ thống Hải quan, bảo đảm một việc chỉ có một đầu mối chịu trách nhiệm và được giải quyết ở cấp gần doanh nghiệp, gần cửa khẩu nhất có đủ năng lực thực hiện, tránh tình trạng giảm đầu mối tổ chức nhưng làm tăng thời gian, chi phí thực hiện thủ tục của doanh nghiệp.

Từ thực tiễn quản lý tại địa phương, đại biểu đề nghị làm rõ đầu mối, thẩm quyền và trách nhiệm phối hợp giữa Hải quan khu vực với UBND tỉnh và các lực lượng tại cửa khẩu; đồng thời giao Chính phủ quy định cụ thể cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin và xử lý các tình huống phát sinh, bảo đảm không làm gián đoạn hoạt động xuất nhập khẩu.

Về chuyển đổi số, đại biểu cho biết 6 tháng đầu năm 2026, Chi cục Hải quan khu vực XVI đã đẩy mạnh nền tảng cửa khẩu số, dịch vụ công trực tuyến và quản lý rủi ro, với tỷ lệ tờ khai luồng xanh đạt trên 64%, luồng đỏ khoảng 1,5%.

Tuy nhiên, hạ tầng công nghệ thông tin, cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ kiểm tra, giám sát vẫn còn hạn chế. Vì vậy, đối với Điều 17a về quản lý tuân thủ và Điều 22 về địa điểm làm thủ tục, kiểm tra, giám sát hải quan, đại biểu đề nghị tăng cường quản lý trên cơ sở dữ liệu, quản lý rủi ro và chia sẻ thông tin; hạn chế yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại các dữ liệu cơ quan nhà nước đã có.

Đồng thời, các tiêu chuẩn về địa điểm kiểm tra, kho bãi, thiết bị giám sát cần phù hợp với quy mô, tính chất và lưu lượng hàng hóa của từng cửa khẩu, không áp dụng một tiêu chuẩn cứng đối với tất cả các cửa khẩu, nhất là tại địa bàn miền núi, biên giới; làm rõ trách nhiệm đầu tư hạ tầng công nghệ, trang thiết bị kiểm tra, giám sát và cơ chế kết nối dữ liệu giữa Hải quan với Bộ đội Biên phòng, Công an, cơ quan quản lý cửa khẩu và các cơ quan kiểm tra chuyên ngành nhằm giảm kiểm tra trùng lặp, rút ngắn thời gian thông quan.

Đại biểu nhấn mạnh, dự thảo Luật cần bảo đảm ba nguyên tắc: Tổ chức Hải quan theo khu vực nhưng thẩm quyền giải quyết công việc phải được phân cấp đầy đủ đến địa bàn và cửa khẩu; xác lập rõ cơ chế phối hợp giữa Hải quan khu vực với UBND tỉnh và các lực lượng tại cửa khẩu, nhất là cơ chế xử lý nhanh khi phát sinh vướng mắc có nguy cơ làm gián đoạn hoạt động xuất nhập khẩu; chuyển đổi số và quản lý tuân thủ phải hướng tới mục tiêu giảm hồ sơ, giảm kiểm tra trùng lặp, giảm thời gian và chi phí thông quan cho doanh nghiệp, đồng thời vẫn bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước, phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại.

Đại biểu Ma Thị Thúy: Cần bảo đảm tính thống nhất và khả thi của dự án Luật Đầu tư

Tham gia thảo luận tại tổ, đại biểu Ma Thị Thúy tham gia góp ý đối với dự án Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục IV về danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư. Đại biểu cho rằng cần rà soát tên gọi và phạm vi điều chỉnh của dự án Luật, bảo đảm thống nhất giữa tên gọi, tờ trình và nội dung dự thảo.

Đại biểu Ma Thị Thúy thảo luận tại tổ về dự án Luật Đầu tư.

Đại biểu Ma Thị Thúy thảo luận tại tổ về dự án Luật Đầu tư.

Theo đại biểu, dự án Luật chỉ sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục IV của Luật Đầu tư nhưng Điều 3 của dự thảo lại sửa đổi Điều 88 của Luật Xây dựng và bãi bỏ khoản 6 Điều 29 của Luật Đường bộ, vượt ra ngoài phạm vi thể hiện trong hồ sơ dự án Luật.

Vì vậy, đại biểu đề nghị Chính phủ nghiên cứu sửa đổi hoặc bỏ Điều 3; trường hợp cần thiết thì điều chỉnh tên gọi, phạm vi, tờ trình và các tài liệu liên quan, đồng thời bổ sung đầy đủ căn cứ đánh giá tác động, ý kiến của cơ quan quản lý chuyên ngành và phương án chuyển tiếp đối với các quy định sửa đổi của Luật Xây dựng và Luật Đường bộ, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hồ sơ dự án Luật.

Đối với quy định bổ sung ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh đối với khí N₂O sử dụng cho con người qua đường hô hấp ngoài mục đích y tế, đại biểu đánh giá việc Chính phủ đã tiếp thu, giải trình theo yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bảo đảm phân định rõ giữa các hành vi bị cấm với các trường hợp sử dụng hợp pháp, đồng thời bảo đảm tính khả thi trong tổ chức thực hiện, không ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu, thử nghiệm, đào tạo và các mục đích chuyên môn khác.

Tuy nhiên, đối với các địa bàn miền núi, biên giới, hải đảo, đại biểu cho rằng quy định cấm chỉ thực sự khả thi khi đi kèm cơ chế kiểm tra, kiểm soát phù hợp với điều kiện quản lý nhà nước; do đó đề nghị Chính phủ tiếp tục nghiên cứu, bổ sung quy định cụ thể về cơ chế kiểm tra, giám sát việc mua bán, vận chuyển khí N₂O tại các địa bàn đặc thù.

Các ý kiến tại Tổ được tổng hợp, gửi cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu, tiếp thu, hoàn thiện các dự án luật và dự thảo nghị quyết trước khi trình Quốc hội xem xét, quyết định.

Tin, ảnh: Lý Thu

Nguồn Tuyên Quang: http://baotuyenquang.com.vn/thoi-su-chinh-tri/tin-tuc/202608/dai-bieu-quoc-hoi-tinh-tuyen-quang-thao-luan-tai-ky-hop-khong-thuong-le-thu-nhat-quoc-hoi-khoa-xvi-afe46ef/