Đảm bảo cơ sở vật chất và thiết bị dạy học phù hợp

ĐBP - Trong quá trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, tỉnh Điện Biên chú trọng đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học theo hướng phù hợp với điều kiện thực tế từng địa bàn. Đặc biệt tại các xã biên giới còn nhiều khó khăn, việc đảm bảo trường lớp, thiết bị học tập từng bước đáp ứng yêu cầu dạy và học, đồng thời góp phần thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa các địa bàn.

Giờ học của cô và trò tại điểm trường Pa Sáng, Trường Tiểu học Hua Thanh (xã Thanh Nưa).

Giờ học của cô và trò tại điểm trường Pa Sáng, Trường Tiểu học Hua Thanh (xã Thanh Nưa).

Với 45 xã, phường, trong đó có tới 1/3 là các xã biên giới, ngành giáo dục Điện Biên đối mặt với những thách thức không nhỏ. Địa hình chia cắt mạnh, dân cư phân bố không tập trung dẫn đến hệ thống mạng lưới trường lớp còn phân tán. Theo thống kê, toàn tỉnh hiện có 787 điểm trường mầm non và 360 điểm trường tiểu học lẻ.

Việc đầu tư thiết bị dạy học đồng bộ theo Chương trình Giáo dục phổ thông (GDPT) 2018 tại các điểm bản vùng sâu, vùng xa gặp trở ngại lớn về hạ tầng điện, internet và bảo quản thiết bị. Nguồn vốn đầu tư dù đã được quan tâm nhưng vẫn chưa thể khỏa lấp hết nhu cầu thực tiễn của một địa phương có tỷ lệ hộ nghèo còn cao, thường xuyên chịu tác động của thiên tai, lũ quét.

Bà Hoàng Tuyết Ban, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo chia sẻ: Trước thực trạng đó, giải pháp cốt lõi mà địa phương triển khai chính là sự chủ động và tính phù hợp. Không dàn trải, không hình thức, việc đầu tư được tập trung vào các hạng mục thiết yếu nhất để đảm bảo mục tiêu “dạy thật, học thật”. Đặc biệt, để duy trì sĩ số và chất lượng giáo dục vùng biên, tỉnh đã ưu tiên xây dựng gần 3.600 phòng nội trú cho học sinh, trên 1.600 phòng công vụ cho giáo viên. Đây chính là nền tảng vững chắc để thầy và trò yên tâm bám bản, bám trường.

Trong công tác trang bị thiết bị dạy học, thay vì chờ đợi nguồn kinh phí tập trung, các cơ sở giáo dục đã chủ động rà soát, phân loại thiết bị hiện có. Các thiết bị còn sử dụng được đều được sửa chữa, nâng cấp để đáp ứng yêu cầu chương trình mới. Sự linh hoạt còn thể hiện ở việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin. Tại các xã biên giới, dù điều kiện còn thiếu thốn, việc đưa AI và các nền tảng số vào hỗ trợ giảng dạy đã bước đầu tạo ra sự bình đẳng về tiếp cận thông tin cho học sinh.

Dù đóng chân trên địa bàn có nhiều thuận lợi, song Trường Tiểu học Hua Thanh (xã Thanh Nưa) vẫn còn 2 điểm lẻ tại các bản khó khăn, với hạ tầng viễn thông chưa đồng bộ. Bà Đỗ Thị Thu Hiền, Hiệu trưởng nhà trường cho biết, để vượt khó đơn vị đã tích cực huy động nguồn lực xã hội hóa đầu tư hệ thống điện năng lượng mặt trời. Song song với đó, mỗi giáo viên đều chủ động học hỏi, nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin, AI vào giảng dạy. Thầy cô chuẩn bị bài giảng điện tử từ nhà và sử dụng sim 4G cá nhân phục vụ bài giảng.

Bên cạnh ngân sách Nhà nước, công tác xã hội hóa giáo dục được phát động mạnh mẽ và có sức lan tỏa sâu rộng những năm gần đây. Chỉ riêng năm học vừa qua, hàng chục tỷ đồng từ các tổ chức, cá nhân đã hỗ trợ đầu tư máy tính, sách khoa học, nhà lớp học, thư viện... cho nhiều cơ sở trường học tại các xã đặc biệt khó khăn. Tuy nhiên, thực tế tại 45 xã, phường vẫn cho thấy những rào cản mang tính đặc thù. Dù đã có nhiều nỗ lực, tỉ lệ phòng học và phòng nội trú kiên cố nhìn chung còn thấp. Một số cơ sở giáo dục vẫn phải tổ chức học 2 ca do thiếu phòng; số lượng phòng học chức năng cùng nhiều hạng mục phụ trợ khác chưa đảm bảo đầy đủ quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Trước những thách thức về hạ tầng, giải pháp trọng tâm mà các địa phương và nhà trường đang thực hiện là “bố trí, sắp xếp và sử dụng hợp lý, hiệu quả cơ sở vật chất, thiết bị hiện có”. Việc tăng cường quản lý tài sản công đi đôi với việc tu bổ, tôn tạo cảnh quan trường học giúp tối ưu hóa công năng của các công trình đã được đầu tư. Mỗi cơ sở trường học, nhất là trường mầm non phát động phong trào thi đua sáng kiến tự làm đồ dùng dạy học từ nguyên liệu địa phương. Qua đó không chỉ giải quyết bài toán thiết bị, đồ dùng dạy học, mà còn mang lại sự gần gũi, phù hợp với văn hóa bản địa cho học sinh.

Bà Trần Thị Phương, Trường Mầm non Tủa Thàng số 2 (xã Tủa Thàng) cho biết: Nhà trường đẩy mạnh tuyên truyền, vận động, huy động nhân dân, cán bộ, giáo viên và học sinh tham gia đóng ngày công, nguyên vật liệu tại chỗ làm nhà lớp học, đồ dùng, đồ chơi cho học sinh theo hướng Nhà nước và nhân dân cùng làm; xây dựng cảnh quan, môi trường giáo dục xanh - sạch - đẹp và thân thiện. Với hệ thống cơ sở vật chất, thiết bị hiện có, trường bố trí, sắp xếp, sử dụng hợp lý, hiệu quả; tăng cường quản lý tài sản công để đảm bảo phát huy tối đa hiệu quả.

Tại 15 xã biên giới, dù điều kiện còn nhiều thiếu thốn, việc ưu tiên sửa chữa, cải tạo các hạng mục thiết yếu đã cơ bản đáp ứng nhu cầu tối thiểu phục vụ dạy và học theo chương trình mới. Sự linh hoạt trong việc lồng ghép các nguồn vốn từ chương trình mục tiêu quốc gia với nguồn xã hội hóa chính là “chìa khóa” để tỉnh từng bước xóa bỏ những “vùng trắng” về hạ tầng giáo dục.

Đến nay, 100% các trường học trên địa bàn 45 xã, phường đã có sân bãi tập luyện thể dục thể thao. Toàn tỉnh có 382 trường mầm mon và phổ thông đạt chuẩn quốc gia, chiếm tỷ lệ 82,51%. Quan trọng hơn cả, tỷ lệ huy động trẻ ra lớp và duy trì sĩ số tại các xã biên giới luôn đạt mức cao, bền vững. Toàn ngành Giáo dục và Đào tạo hiện có 7.446 phòng học (tỷ lệ kiên cố 78,32%); có 1.537 phòng học bộ môn (tỷ lệ kiên cố 77,94%); có 3.878 phòng nội trú học sinh (tỷ lệ kiên cố 61,71%); có 1.684 phòng công vụ giáo viên (tỷ lệ kiên cố 43,35%)...

Để tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, ngành Giáo dục và Đào tạo rất cần sự quan tâm, ưu tiên nguồn lực đầu tư từ Trung ương, cùng với các cơ chế, chính sách phù hợp cho giáo viên vùng biên. Qua đó, từng bước hoàn thiện hệ thống hạ tầng giáo dục đồng bộ, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong điều kiện thực tế của địa phương.

Hà Linh

Nguồn Điện Biên Phủ: https://baodienbienphu.vn/tin-bai/giao-duc/dam-bao-co-so-vat-chat-va-thiet-bi-day-hoc-phu-hop