Dán nhãn năng lượng - 'Giấy thông hành' cho vật liệu xanh

Theo Bộ Xây dựng, quý IV/2026 dự kiến ban hành thông tư dán nhãn năng lượng cho vật liệu xây dựng. Đây được xem là 'giấy thông hành' để thúc đẩy sản xuất, lưu thông và sử dụng vật liệu xây dựng xanh.

Vicem Hà Tiên có 13 sản phẩm được cấp "Nhãn xanh". Ảnh: Vicem Hà Tiên

Vicem Hà Tiên có 13 sản phẩm được cấp "Nhãn xanh". Ảnh: Vicem Hà Tiên

Theo Bộ Xây dựng, quý IV/2026 dự kiến ban hành thông tư dán nhãn năng lượng cho vật liệu xây dựng. Đây được xem là “giấy thông hành” để thúc đẩy sản xuất, lưu thông và sử dụng vật liệu xây dựng xanh trên thị trường.

Ông Lê Văn Kế, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, môi trường và Vật liệu xây dựng cho biết, việc phát triển vật liệu xây dựng xanh không còn là xu hướng mang tính khuyến khích đơn thuần mà đã từng bước đi vào thực tiễn sản xuất và thị trường. Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển mới, dư địa vẫn còn rất lớn.

Trong giai đoạn tới, ngành vật liệu xây dựng cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách, tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức, cơ sở dữ liệu, cơ chế chứng nhận và các công cụ thị trường nhằm thúc đẩy mạnh mẽ việc sản xuất và sử dụng vật liệu xanh.

Định hướng này cũng đã được đặt ra rõ trong Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 3/2/2026 của Ban Bí thư về tăng cường lãnh đạo công tác quản lý và phát triển vật liệu xây dựng trong giai đoạn mới. Để cụ thể hóa chỉ thị, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 527/QĐ-TTg ngày 31/3/2026 về kế hoạch triển khai, trong đó nhấn mạnh yêu cầu phát triển ngành vật liệu xây dựng theo hướng bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh, đẩy mạnh chuyển đổi xanh, đổi mới công nghệ và minh bạch thị trường.

Hiện Bộ Xây dựng đang tiếp tục hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan gồm Nghị định quản lý vật liệu xây dựng thay thế Nghị định số 09/2021/NĐ-CP và Thông tư quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng thay thế Thông tư số 10/2024/TT-BXD.

Theo ông Kế, trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, ngành vật liệu xây dựng phải thay đổi mạnh mẽ cả về tư duy phát triển lẫn phương thức quản lý. Thay vì dựa chủ yếu vào khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ và mở rộng công suất, ngành cần chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên công nghệ, quản trị hiện đại, đổi mới sáng tạo, tiết kiệm năng lượng, kinh tế tuần hoàn và phát thải thấp.

Dây chuyền công nghệ Sacmi Continua+ hiện đại tại Nhà máy gạch Viglacera Eurotile. Ảnh: Thu Hằng/BNEWS/TTXVN

Dây chuyền công nghệ Sacmi Continua+ hiện đại tại Nhà máy gạch Viglacera Eurotile. Ảnh: Thu Hằng/BNEWS/TTXVN

Dán nhãn năng lượng không chỉ giúp nhận diện sản phẩm tiết kiệm năng lượng, thân thiện môi trường mà còn tạo công cụ minh bạch cho thị trường, giúp người tiêu dùng, chủ đầu tư và cơ quan quản lý có cơ sở đánh giá, lựa chọn sản phẩm.

Ông Lê Quang Hùng - nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng, Chủ tịch Hội Bê tông Việt Nam cho rằng, để thúc đẩy phát triển vật liệu xây dựng xanh cần có sự rà soát và định hướng đồng bộ hơn.

Trước hết, cần làm rõ khái niệm và xây dựng hệ thống mã định danh thống nhất cho vật liệu xanh, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang xây dựng các chính sách mới liên quan đến quản lý vật liệu xây dựng. Việc chuẩn hóa khái niệm sẽ giúp tránh chồng chéo và tạo nền tảng cho quản lý hiệu quả.

“Hiện nay, việc dán nhãn vật liệu xanh do nhiều tổ chức thực hiện với các tiêu chí chưa thống nhất, dẫn đến thiếu đồng bộ và gây khó khăn cho thị trường. Do đó, cần xây dựng một bộ tiêu chí chung, minh bạch để xác định rõ thế nào là “xanh”, đồng thời quy định cụ thể cách thức đánh giá, kiểm chứng các tiêu chí này’ – ông Hùng phân tích.

Bên cạnh đó, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với từng nhóm vật liệu cũng cần được hoàn thiện đồng bộ. Nhà nước cần có các cơ chế hỗ trợ cụ thể như ưu tiên sử dụng vật liệu xanh trong các công trình đầu tư công, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế để xây dựng khung chính sách phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Một trong những rào cản hiện nay là giá thành sản phẩm xanh vẫn còn cao. Vì vậy, cùng với chính sách hỗ trợ, cần tăng cường truyền thông để người dân và doanh nghiệp hiểu rõ lợi ích lâu dài của vật liệu xanh, từ đó thay đổi thói quen tiêu dùng và đầu tư.

Ở góc độ doanh nghiệp, nhiều đơn vị cho biết xu hướng “xanh hóa” sản xuất đang trở thành yêu cầu tất yếu nếu muốn duy trì năng lực cạnh tranh. Ông Nguyễn Cảnh Hồng - Tổng giám đốc Eurowindow cho rằng, thúc đẩy chuyển đổi xanh không chỉ nhằm giảm phát thải khí nhà kính mà còn giúp tiết kiệm tài nguyên, tận dụng tái chế và hạn chế tác động tiêu cực đến môi trường.

Việc “xanh hóa” tại doanh nghiệp không chỉ dừng ở hiện đại hóa dây chuyền, máy móc tiết kiệm nhiên liệu và điện năng mà còn bắt đầu từ khâu lựa chọn nguyên liệu đầu vào an toàn, hạn chế tác động môi trường.

Sau hơn hai thập niên phát triển, doanh nghiệp này hiện tập trung vào các giải pháp cửa cách âm, cách nhiệt nhằm tiết kiệm năng lượng và bảo đảm an toàn cho sức khỏe người sử dụng.

Dây chuyền phủ kính tiết kiệm năng lượng của Viglacera hướng tới mục tiêu Net Zero. Ảnh: Viglacera

Dây chuyền phủ kính tiết kiệm năng lượng của Viglacera hướng tới mục tiêu Net Zero. Ảnh: Viglacera

Tuy nhiên, theo ông Hồng, để thị trường vật liệu xanh phát triển mạnh cần sớm ban hành hệ thống tem nhãn xanh thống nhất để tạo sự khác biệt giữa các sản phẩm.

“Hướng đến mục tiêu net zero năm 2050, công trình xanh sẽ trở thành tiêu chí bắt buộc với các chủ đầu tư. Chúng ta phải dán tem nhãn xanh cho vật liệu, thiết kế rồi tiến tới công trình xanh đúng tiêu chuẩn. Quá trình này đòi hỏi sự tham gia đồng bộ của cơ quan quản lý, đơn vị sản xuất, thiết kế và chủ đầu tư” – ông Hồng đề xuất.

Đồng quan điểm, ông Dương Văn Tú - Công ty TNHH cách âm cách nhiệt Phương Nam nhận xét, các chính sách thúc đẩy vật liệu xây dựng xanh thời gian qua là tín hiệu rõ ràng buộc doanh nghiệp phải nhìn lại toàn bộ chuỗi giá trị, từ nguyên liệu đầu vào, công nghệ sản xuất đến cách tiếp cận thị trường.

Doanh nghiệp không xem đây là áp lực mà là cơ hội để tái cấu trúc chiến lược phát triển. Đơn cử như việc doanh nghiệp đã chủ động đầu tư công nghệ tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải từ thị trường châu Âu, đồng thời phát triển các dòng sản phẩm panel cách nhiệt, cách âm thân thiện môi trường.

“Nếu chính sách được cụ thể hóa hơn, đặc biệt là ưu đãi đầu tư, tín dụng xanh và tiêu chuẩn hóa, ngành vật liệu xây dựng xanh Việt Nam hoàn toàn có thể nâng cao vị thế, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu”, ông Tú nói.

Nhiều doanh nghiệp cũng cho rằng, để thúc đẩy thị trường phát triển thực chất, khoảng cách từ chính sách đến thực tiễn cần được rút ngắn hơn. Theo ông Nguyễn Cảnh Hồng, đầu tư sản xuất sản phẩm xanh có chi phí rất lớn nên doanh nghiệp cần sớm có cơ chế dán nhãn để phân biệt sản phẩm xanh với các sản phẩm thông thường trên thị trường. Ngoài ra, việc tiếp cận tín dụng xanh hiện vẫn còn nhiều khó khăn.

Doanh nghiệp này đề xuất cơ quan quản lý cần xây dựng cơ chế, tiêu chí chuẩn mực để doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn vốn tín dụng xanh thuận lợi hơn. Đồng thời, quản lý hậu kiểm cũng cần được siết chặt nhằm kiểm soát chất lượng sản phẩm sau khi lưu thông trên thị trường.

“Cần có đơn vị cấp chứng chỉ để thấy sự khác biệt giữa các sản phẩm. Khi đó, người tiêu dùng sẽ được hưởng lợi vì được tiếp cận sản phẩm chất lượng cao, an toàn cho sức khỏe”, ông Hồng nói.

Việc xây dựng cơ chế dán nhãn năng lượng cho vật liệu xây dựng không chỉ là câu chuyện kỹ thuật mà còn là bước đi quan trọng để hình thành thị trường vật liệu xanh minh bạch và cạnh tranh lành mạnh.

Khi các tiêu chí được chuẩn hóa, sản phẩm được phân loại rõ ràng và có cơ chế kiểm chứng độc lập, doanh nghiệp sẽ có động lực đầu tư đổi mới công nghệ, còn người tiêu dùng có thêm cơ sở để lựa chọn sản phẩm tiết kiệm năng lượng, thân thiện môi trường.

Thu Hằng/Bnews/vnanet.vn

Nguồn Bnews: https://bnews.vn/dan-nhan-nang-luong-giay-thong-hanh-cho-vat-lieu-xanh/420884.html