Đan xen lợi ích và tự chủ chiến lược: 'Lá chắn' bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa
Đối ngoại không chỉ mở rộng không gian phát triển mà còn trở thành tuyến đầu kiến tạo môi trường chiến lược thuận lợi, cùng quốc phòng và an ninh bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia-dân tộc.

Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên chia sẻ về ý nghĩa đường lối đối ngoại của Đại hội XIV của Đảng. (Ảnh: Việt Đức/TTXVN)
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã đề ra những quyết sách chiến lược lịch sử, mở ra kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.
Trong hành trình hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045, công tác bảo đảm an ninh quốc gia và triển khai đường lối đối ngoại được đặt trong một tư duy chiến lược mới, gắn kết chặt chẽ giữa bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc và củng cố thế, lực của đất nước.
Sự kế thừa sâu sắc và phát triển vượt bậc này được cụ thể hóa bằng mối liên hệ biện chứng, hữu cơ giữa Nghị quyết số 06-NQ/TW của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV và Nghị quyết số 22-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về Chiến lược An ninh quốc gia.
Bước chuyển mình của ngoại giao sau 40 năm Đổi mới
Trước hết, để thấu hiểu thế và lực mới của Việt Nam hôm nay, cần nhìn lại điểm xuất phát đầy gian khó của ngoại giao Việt Nam 40 năm trước. Chặng đường từ Đại hội lần thứ VI năm 1986 đến nay không chỉ là sự thay đổi về chính sách, mà còn là một cuộc lột xác kỳ tích về tâm thế của cả một dân tộc.
Chia sẻ ký ức bao cấp gian khó, nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Dy Niên nhớ lại: "Thời kỳ bao cấp khổ lắm. Mỗi lần đi hội nghị Liên hợp quốc, quần áo các cán bộ ngoại giao phải đi mượn từ kho của Bộ Tài chính. Công tác phí của Thứ trưởng chỉ có 20 cent một ngày, còn Bộ trưởng như đồng chí Nguyễn Cơ Thạch cũng chỉ được 25 cent, không đủ để sinh hoạt tại các nước phát triển."
Ông kể thêm, mỗi đoàn công tác nước ngoài thời đó vô cùng tinh gọn, chỉ khoảng 4-5 người, không có phiên dịch, các nhà ngoại giao phải tự gánh vác mọi nhiệm vụ và chấp nhận sinh hoạt vô cùng kham khổ tại văn phòng cơ quan đại diện ở New York.
"Khổ cực là thế, nhưng bản lĩnh và ý chí chiến đấu ngoại giao của chúng ta chưa bao giờ lùi bước. Chúng ta vẫn đấu tranh sòng phẳng để bảo vệ lợi ích quốc gia," ông Nguyễn Dy Niên nhấn mạnh.
Sự kiên trì ấy đã được đền đáp bằng đường lối Đổi mới lịch sử năm 1986. "Cởi trói" tư duy đã giúp ngoại giao Việt Nam liên tiếp tháo gỡ những điểm nghẽn sinh tử: phá thế bao vây cấm vận, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc (năm 1991), bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ (năm 1995), chính thức gia nhập ASEAN (năm 1995), mở ra chương mới hội nhập sâu rộng toàn cầu với việc tham gia ASEM, APEC, WTO.
Đến nay, sau 40 năm Đổi mới, ngoại giao Việt Nam đã có bước chuyển dịch mang tính thời đại: “ngoại giao bảo vệ không gian phát triển” sang “ngoại giao kiến tạo năng lực phát triển quốc gia;” từ “hội nhập thị trường” sang “kiến tạo thị trường;” từ “tham gia luật chơi” sang “góp phần định hình luật chơi.”
Sự chuyển mình này là điểm tựa vững chắc nhất để củng cố nền an ninh quốc gia toàn diện được vạch ra trong Nghị quyết 22-NQ/TW.
Triết lý "trong ấm, ngoài êm"
Từ hơn bảy thế kỷ trước, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã đúc kết một triết lý giữ nước sâu sắc trong “Binh thư yếu lược”: "Hòa ở trong nước thì ít phải dùng binh, hòa ở ngoài biên thì không sợ báo động."
Thấm nhuần trí tuệ cha ông, Đảng ta trong kỷ nguyên mới xác định đối nội và đối ngoại luôn song hành, bổ trợ cho nhau, trong đó "đối ngoại là sự vươn xa của đối nội."
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: "Thực lực như cái chiêng, ngoại giao như cái tiếng. Chiêng có tốt thì tiếng mới vang xa." Nghị quyết số 22-NQ/TW về Chiến lược An ninh quốc gia chính là "bản thiết kế" củng cố thực lực bên trong- cái "chiêng" vững chắc về thể chế, kinh tế, quốc phòng, xã hội; trong khi Nghị quyết số 06-NQ/TW là "tiếng vang" đối ngoại, kiến tạo môi trường quốc tế thuận lợi nhất để bảo vệ và phát triển đất nước.

Đại sứ Phạm Quang Vinh, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao. (Ảnh: Việt Đức/TTXVN)
Nhận diện về mối quan hệ mật thiết này, Đại sứ Phạm Quang Vinh, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, phân tích: "Nghị quyết số 06 không đứng biệt lập mà nằm trong hệ thống các nghị quyết chiến lược của Đảng về hội nhập quốc tế (Nghị quyết số 59), khoa học công nghệ, giáo dục, văn hóa... tạo thành một chỉnh thể thống nhất.”
Đại sứ cũng cho rằng đối ngoại hiện nay không còn đơn thuần là việc vươn ra ngoài, mà đã thực sự là thành tố cấu thành năng lực quản trị quốc gia, kiến tạo không gian phát triển và môi trường chiến lược thuận lợi cho sự phát triển và an ninh quốc gia của Việt Nam.
Trong tư duy đó, đột phá lớn tại Đại hội XIV là lần đầu tiên xác định đối ngoại và hội nhập quốc tế là nhiệm vụ "trọng yếu, thường xuyên" song hành cùng quốc phòng, an ninh. Tính chất "trọng yếu" thể hiện ở sứ mệnh tiên phong: đối ngoại ở tuyến đầu và trung tâm để hóa giải sớm nguy cơ xung đột từ sớm, từ xa, từ nơi xuất phát.
Tính chất "thường xuyên" đòi hỏi sự triển khai liên tục, bài bản của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng, phối hợp chặt chẽ giữa ba cột trụ Quốc phòng-An ninh-Đối ngoại.
Tăng cường năng lực định hình môi trường chiến lược
Trong bối cảnh địa chính trị thế kỷ 21 biến động dữ dội và mang tính thời đại, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn diễn ra cực kỳ gay gắt trên mọi lĩnh vực, câu hỏi đặt ra cho Việt Nam là làm thế nào để vừa bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, vừa bứt phá phát triển?
Lời giải nằm ở sự đổi mới căn bản về tư duy đối ngoại. Theo Đại sứ Phạm Quang Vinh, Việt Nam phải chuyển mạnh từ tư duy "tham gia, thích ứng và tiếp nhận" sang tư duy "chủ động kiến tạo, xây dựng và đóng góp."
Thế giới không chờ đợi mang cơ hội đến cho bất kỳ quốc gia nào, mỗi nước phải tự kiến tạo không gian phát triển cho chính mình. Vì vậy, đối ngoại trong kỷ nguyên mới không chỉ thích ứng với biến động, mà phải vươn lên chủ động định hình môi trường chiến lược theo hướng có lợi cho đất nước.
Định hướng này đòi hỏi Việt Nam nâng cao ba năng lực then chốt.
Trước hết, đó là nâng cao năng lực dự báo chiến lược và quản trị rủi ro. Thay vì bị động ứng phó, đối ngoại phải dự báo sớm các xu hướng, chủ động kiểm soát và quản trị rủi ro, nhất là nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng trước các cú sốc địa chính trị hay chính sách thuế quan.
Việt Nam đã lựa chọn cách tiếp cận khôn khéo khi vừa làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác kinh tế lớn như Mỹ và Trung Quốc, vừa chủ động đa dạng hóa thị trường, đối tác và nguồn cung.
Tiếp theo, Việt Nam tập trung phát huy tối đa mạng lưới Đối tác Chiến lược rộng khắp khi đã xây dựng được mạng lưới quan hệ Đối tác Toàn diện, Đối tác Chiến lược và Đối tác Chiến lược Toàn diện với 40 quốc gia, đặc biệt là việc thiết lập quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện với tất cả năm nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.
Đây là lợi thế chiến lược tối quan trọng giúp giữ vững độc lập, tự chủ và bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa.
Cuối cùng, việc đưa khoa học, công nghệ và chuyển giao công nghệ trở thành trọng tâm đối ngoại được khẳng định mạnh mẽ khi Nghị quyết 06-NQ/TW lần đầu tiên xác định Ngoại giao Khoa học-Công nghệ và Đổi mới sáng tạo là một trụ cột riêng biệt.
Trọng tâm của trụ cột này là sự chuyển dịch mạnh mẽ từ nhận tài trợ sang hợp tác cùng có lợi và chuyển giao công nghệ chiến lược như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và lượng tử, vừa giải quyết bài toán an ninh công nghệ, vừa nâng cao nội lực kinh tế bên trong để hấp thụ hiệu quả các nguồn vốn đầu tư thế hệ mới.
Hành động quyết liệt
Đường lối đã rõ ràng, việc cấp thiết hiện nay là tổ chức thực hiện nhanh chóng và có kết quả cụ thể. Đúng như tinh thần chỉ đạo quyết liệt của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, hiệu quả đối ngoại không nằm ở tần suất tiếp xúc hay tên gọi khuôn khổ mà thước đo chính là môi trường hòa bình được củng cố, lợi ích đất nước được bảo vệ, thị trường được mở rộng, dự án được hình thành, công nghệ và nhân lực được nâng lên, nhân dân được hưởng lợi.
Mọi quyết sách của cả an ninh quốc gia và đối ngoại cuối cùng đều phải hướng tới mục tiêu tối thượng là bảo đảm lợi ích quốc gia-dân tộc, đặt người dân vào vị trí trung tâm, lấy hạnh phúc, sự an toàn và nâng cao đời sống của nhân dân làm gốc.
Sự phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ giữa Chiến lược An ninh quốc gia và đường lối đối ngoại theo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng sẽ đưa Việt Nam vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển phồn vinh và hạnh phúc./.
