Đằng sau hành vi bạo lực trên bục giảng

Một nam sinh bạo lực với giáo viên ngay trên bục giảng gây phẫn nộ dư luận, đặt ra yêu cầu nhận diện sớm nguyên nhân và tìm giải pháp ngăn chặn từ gốc.

PGS. TS. Trần Thành Nam. (Ảnh TGCC)

PGS. TS. Trần Thành Nam. (Ảnh TGCC)

Những nguy cơ bạo lực bị bỏ lỡ

Tối 20/10 vừa qua, mạng xã hội đã lan truyền đoạn clip ghi lại cảnh một nam sinh có hành vi hành hung giáo viên ngay trong lớp học. Theo hình ảnh từ clip, khi cô giáo đang giảng bài trên bục giảng, một nam sinh bất ngờ lao tới, dùng tay đấm vào đầu nữ giáo viên. Một học sinh hành hung giáo viên khiến dư luận phẫn nộ và đòi hỏi phải xử lý nghiêm minh.

Nhưng để ngăn chặn những vụ việc tương tự, giáo dục cần trả lời một câu hỏi khó hơn: Bằng cách nào một đứa trẻ dần hình thành hành vi bạo lực, sẵn sàng sử dụng bạo lực trước đám đông mà không suy nghĩ? Và ai có thể giúp em thay đổi? Đằng sau một hành vi bạo lực có thể là cả một quá trình tích lũy những yếu tố nguy cơ qua nhiều năm, cùng những cơ hội can thiệp đã bị bỏ lỡ.

Bạo lực hôm nay có thể đã được hình thành từ rất lâu qua những tương tác nhỏ hàng ngày. Dư luận phẫn nộ vì một cú đánh diễn ra trong vài giây. Nhưng những tác nhân, điều kiện làm tăng khả năng xuất hiện cú đánh ấy có thể đã tích lũy qua nhiều năm.

Có thể ngay từ nhỏ, một số trẻ có khí chất dễ thất vọng, dễ kích động, khó chờ đợi, khó kiểm soát xung động và xu hướng phản ứng mạnh khi bị từ chối đã không được người lớn hỗ trợ và ứng xử đúng cách. Ví dụ cha mẹ yêu cầu thì những đứa trẻ có khí chất khó chịu như trên thường phản đối. Nhưng thay vì thuyết phục kiên định, cha mẹ lại quát lớn hơn và dùng các đòn đe dọa, trừng phạt, trẻ tiếp tục gào thét và cuối cùng thì cha mẹ bỏ cuộc.

Khi tình huống này lặp đi lặp lại, trẻ có thể học được rằng phản ứng càng dữ dội thì càng dễ thoát khỏi yêu cầu khó chịu. Trong khi đó, từ cha mẹ đến thầy cô cũng có thể hình thành niềm tin rằng chỉ khi đe dọa, quát nạt hoặc đánh phạt thì trẻ mới nghe lời.

Sống trong vòng lặp như vậy, trẻ có thể hình thành cách diễn giải tình huống theo hướng thù địch. Một bạn vô ý va vào mình có thể bị hiểu thành “nó cố tình gây sự”; một lời nhắc nhở của cô giáo có thể bị diễn giải thành “cô chỉ muốn làm mình bẽ mặt”. Cách diễn giải thù địch, kết hợp với kỹ năng giải quyết vấn đề hạn chế, có thể dẫn đến những hành động trả đũa bằng bạo lực.

Tất nhiên, những học sinh thường xuyên diễn giải tình huống theo hướng tiêu cực và sử dụng bạo lực để giải quyết vấn đề có thể bị bạn bè tẩy chay, né tránh. Một số phụ huynh có thể ngăn cản con mình chơi cùng các em. Việc thường xuyên bị giáo viên nhắc nhở cũng có thể khiến các em dần mất kết nối với bạn bè, giáo viên và nhà trường. Hành vi ngày càng vi phạm chuẩn mực, trong khi kết quả học tập có nguy cơ sa sút.

Đến tuổi vị thành niên, nhu cầu được khẳng định bản thân, được kết nối và tìm kiếm bản sắc trở thành những nhu cầu căn bản. Những học sinh có hành vi vi phạm kỷ luật, thường xuyên sử dụng bạo lực cũng có thể tìm đến các nhóm bạn có đặc điểm tương tự để được chấp nhận, thậm chí thực hiện những hành vi sai trái cực đoan nhằm được nhóm bạn nể phục.

Lúc này, cha mẹ và thầy cô có thể đã kiệt sức vì việc giám sát, ngày càng chuyển sang những cách ứng xử như bỏ mặc hoặc trừng phạt bằng lời nói, tinh thần. Nhà trường chờ gia đình “quản lý lại con”, gia đình chờ nhà trường “dạy nghiêm hơn”, trong khi dịch vụ tâm lý còn mang tính hình thức, chỉ tập trung vào việc học mà chưa kết nối được các bên liên quan.

Đáng chú ý, nếu những hành vi sai trái bị người lớn phê bình lại nhận được sự tán thưởng, tăng uy thế, vị trí trong nhóm, hành vi ấy càng có khả năng được duy trì. Trẻ có thể dùng đe dọa để né tránh nhiệm vụ, đánh bạn để giành lợi ích hoặc vị trí trong nhóm, thậm chí đánh giáo viên khi bị bạn bè thách thức.

Đến giai đoạn này, những chương trình giáo dục đơn thuần như hướng dẫn quản lý cảm xúc hay kiểm soát cơn giận thường không đủ để giải quyết toàn bộ vấn đề. Các em có thể cần được bố trí trong một môi trường giáo dục an toàn, có biện pháp giám sát phù hợp, đồng thời được hỗ trợ thiết lập lại các mối quan hệ, loại bỏ những lợi ích xã hội đang duy trì hành vi sai lệch và tham gia chương trình rèn luyện nhân cách, thay đổi kỹ năng trong một khoảng thời gian đủ dài.

Hình ảnh chụp từ màn hình camera ghi lại sự việc nam sinh tấn công cô giáo tại THPT Mạc Đĩnh Chi, Hà Nội.

Hình ảnh chụp từ màn hình camera ghi lại sự việc nam sinh tấn công cô giáo tại THPT Mạc Đĩnh Chi, Hà Nội.

Hành vi ngỗ nghịch, bệnh và ranh giới pháp lý

Trong y văn, người ta phân loại ra một số nhóm bệnh về mặt hành vi, gồm rối loạn thách thức chống đối (Oppositional Defiant Disorder) và rối loạn hành vi (Conduct Disorder) nhưng thường được người lớn dùng lẫn với những từ như “cá biệt”, “vô kỷ luật”, “ngỗ nghịch” hay “vô cảm”. Sự nhầm lẫn có thể dẫn đến sự kỳ thị và xử lý sai.

Rối loạn thách thức chống đối, đặc trưng là kiểu khí chất dễ cáu giận, hay tranh cãi, thách thức và hằn học kéo dài, vượt mức phù hợp với phát triển và gây ảnh hưởng đáng kể đến cuộc sống, sinh hoạt. Còn rối loạn hành vi, hay conduct disorder, đề cập đến kiểu hành vi lặp lại, dai dẳng, xâm phạm quyền cơ bản của người khác hoặc vi phạm nghiêm trọng chuẩn mực phù hợp lứa tuổi. Biểu hiện có thể gồm gây hấn, phá hoại, lừa dối, trộm cắp và vi phạm quy tắc nghiêm trọng. Tất nhiên một hành vi riêng lẻ, dù rất nghiêm trọng, cũng chưa đủ để xác lập chẩn đoán.

Nếu đứa trẻ đến 18 tuổi với các biểu hiện rối loạn hành vi nghiêm trọng thì có thể được chẩn đoán mới là “rối loạn nhân cách chống đối xã hội”. Lúc này, những sai phạm của họ, kể cả giáo dục cũng sẽ được điều chỉnh bằng các quy phạm của Luật hình sự. Tại sao tôi lại nói về các hành vi sai phạm đơn lẻ và chẩn đoán bệnh. Vấn đề là phải xác định rõ để định hướng can thiệp.

Với những hành vi nhẹ, mới xuất hiện của trẻ hoặc nhóm rối loạn thách thức chống đối thì việc ưu tiên là hỗ trợ sớm với quy tắc hành vi rõ ràng, ghi nhận sự hợp tác, đưa ra những hình thức kỷ luật giáo dục vừa mức, luyện kỹ năng giải quyết bất đồng và huấn luyện kỹ năng cho người chăm sóc về phương pháp kỷ luật tích cực.

Với những hành vi bạo lực nghiêm trọng hoặc tái diễn, cần xây một kế hoạch an toàn, cách ly giáo dục tại trường, đánh giá nguy cơ chuyên sâu và phối hợp can thiệp trong nhóm đa chức năng. Chỉ viết kiểm điểm, xin lỗi, chuyển trường, hoặc đuổi học cũng không thể làm thay đổi những yếu tố duy trì hành vi và ngăn chặn hành vi bạo lực tiếp diễn.

Các nước trên thế giới phát triển một phương pháp được gọi là Trị liệu đa hệ thống để can thiệp chuyên sâu cho những đứa trẻ vị thành niên có hành vi bạo lực nghiêm trọng. Tòa án sẽ ra yêu cầu thay thế với những đứa trẻ này, nếu không muốn vào hệ thống trường giáo dưỡng thì phải bắt buộc phải tham gia trị liệu theo yêu cầu và đạt được những bước tiến phù hợp do nhà tâm lý báo cáo định kỳ.

Một chương trình trị liệu đa hệ thống thường kéo dài khoảng 3-5 tháng. Nhà trị liệu làm việc với gia đình, học sinh, nhà trường và những người có liên quan để xác định các mục tiêu cụ thể, từ đó xây dựng kế hoạch can thiệp và theo dõi tiến triển. Chẳng hạn, với một học sinh có hành vi bạo lực nghiêm trọng, nhà tâm lý có thể đánh giá và xác định rằng hành vi đánh nhau liên quan đến nhiều yếu tố: Khó kiểm soát cơn giận, sự cổ vũ của nhóm bạn, việc giám sát thiếu nhất quán trong gia đình và tình trạng mất gắn kết với trường học.

Trên cơ sở đó, nhà tâm lý phân công nhiệm vụ và giám sát. Ví dụ, với cá nhân sẽ phải luyện giải quyết vấn đề, điều chỉnh cảm xúc, giảm diễn giải thù địch và hành vi gây hấn. Với gia đình của trẻ phải tăng cường giám sát con, giao tiếp nhiều hơn, vận hành quy tắc và hậu quả nhất quán trong gia đình, học cách xử lý xung đột. Với nhóm bạn, cần giảm tiếp xúc với nhóm bạn kích động hành vi sai, thiết lập những mối quan hệ với nhóm bạn tích cực. Với nhà trường cần phối hợp quản lý hành vi sai, hỗ trợ giải quyết khó khăn học tập, tạo điều kiện để kết nối quan hệ bạn bè.

Trong cộng đồng, nhà tâm lý cũng kết nối với các nguồn lực phù hợp, những nội dung, dịch vụ, các hoạt động của công an, chính quyền địa phương để duy trì sự thay đổi của cá nhân. Và nếu hệ thống không hoạt động, cá nhân không có tiến triển như mong đợi của tòa án thì cá nhân có thể sẽ phải trở lại trường giáo dưỡng. Đây cũng có thể là một ý tưởng cho Việt Nam học hỏi.

Những việc cần tiếp tục làm

Trước hết, cần đưa giáo dục cảm xúc, giải quyết xung đột và trách nhiệm trở thành hoạt động thường xuyên trong các hoạt động giáo dục của nhà trường. Trẻ cần được thực hành cách ứng xử khi bị từ chối, bị nhắc nhở và có bất đồng, đồng thời được hướng dẫn khắc phục hậu quả khi gây tổn hại từ khi còn nhỏ đến hết cấp THPT.

Thứ hai, cần phân loại và xây dựng hệ thống hỗ trợ theo mức độ. Những khó khăn hành vi nhẹ, chống đối phải được hỗ trợ sớm tại trường. Hành vi hung hăng kéo dài cần được đánh giá và phối hợp gia đình. Trường hợp bạo lực nghiêm trọng cần nhóm chuyên môn can thiệp, kích hoạt kế hoạch an toàn cách ly tại trường và có các cơ chế chuyển gửi rõ ràng.

Thứ ba, hỗ trợ cha mẹ học thêm những kỹ năng cụ thể: Từ đặt giới hạn hành vi cho con, giám sát, khích lệ sự hợp tác và kỹ năng xử lý xung đột. Những gia đình khó khăn cần được tạo điều kiện, khuyến khích để tham gia, thay vì chỉ nhận về lời phê bình vì hành vi sai của con họ.

Thứ tư, bảo vệ giáo viên phải trở thành trách nhiệm của lãnh đạo các cơ sở giáo dục. Phải có chính sách không khoan nhượng với hành vi bạo lực giáo viên được thông báo công khai. Nghiên cứu đi trước cho thấy các trường vận hành những quy trình kỷ luật rõ ràng với bạo lực cùng hệ thống hỗ trợ đa dạng mang lại cảm giác an toàn cao hơn với giáo viên, qua đó cũng tăng cường hành vi thấu cảm của giáo viên khi xử lý hành vi sai của học sinh.

Cuối cùng, cần thiết lập một hệ thống theo dõi kết quả sau xử lý với những học sinh có hành vi bạo lực: Hành vi có tái diễn không, người bị hại có an toàn không, học sinh có trở lại học tập và quan hệ lành mạnh không. Một hồ sơ đã khép lại chưa có nghĩa nguy cơ đã được giải quyết.

Sau một cú đánh trên bục giảng, sự nghiêm minh cần được thể hiện bằng hành động bảo vệ người bị hại, cùng quy trình rõ ràng để xử lý hành vi bạo lực và hỗ trợ người vi phạm thay đổi. Trách nhiệm của giáo dục không chỉ nằm ở việc phản ứng sau khi sự việc xảy ra, mà còn ở khả năng nhận diện sớm những khó khăn của học sinh, hỗ trợ đúng mức và kiên trì theo dõi sự thay đổi, trước khi một đứa trẻ tiếp tục gây tổn hại cho người khác và cho chính tương lai của mình.

PGS. TS. Trần Thành Nam

Nguồn TG&VN: https://baoquocte.vn/dang-sau-hanh-vi-bao-luc-tren-buc-giang-461037.html