Đảng ta là hiện thân cho trí tuệ và danh dự của cả dân tộc!

Màu cờ đỏ của Đảng chói lọi như mặt trời mới mọc, xé tan màn đen tối và soi đường dẫn lối dân tộc bước vào 'Thời đại lớn cho ta đôi cánh/ Không có gì quý hơn Độc lập, tự do/ Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận/ Có Đảng ta đây, có Bác Hồ'!

Chương trình nghệ thuật “Thanh Hóa - Tự hào cùng đất nước” chào mừng Quốc khánh 2/9. Ảnh: T.L

Chương trình nghệ thuật “Thanh Hóa - Tự hào cùng đất nước” chào mừng Quốc khánh 2/9. Ảnh: T.L

“Đường Kách mệnh sáng ngời chân lý”

Thế giới từng chứng kiến một thế kỷ của những bước nhảy vọt về kinh tế, nhưng cũng là thế kỷ của sự phân hóa sâu sắc: Thế kỷ XIX. Trong khi phương Tây đang tiến hành công nghiệp hóa mạnh mẽ để định hình văn minh công nghiệp và tạo bước đệm cho chủ nghĩa đế quốc bành trướng; thì phần lớn châu Á, châu Phi lại trở thành miếng bánh bị cắt nát trên bàn tiệc đế quốc. Giữa bối cảnh ấy, Việt Nam - một quốc gia có vị trí địa - chính trị rất đặc biệt và dễ bị tổn thương đến nỗi, quá trình hình thành và phát triển đã vô số lần nằm giữa "lằn ranh sinh tử” - càng không thể thoát khỏi vòng quay cuồng loạn của các cuộc xâm chiếm thuộc địa và bành trướng thế lực từ phương Tây.

Năm 1858, thực dân Pháp nổ phát súng làm rung chuyển bờ biển Đà Nẵng, chính thức mở đầu cho cuộc xâm lược và từng bước đặt ách đô hộ lên nước ta. Từ đó, “Dân tộc ta đã phải trải qua gần 1 thế kỷ vô cùng tủi nhục. Trên địa đồ thế giới, tên nước ta đã bị xóa nhòa dưới bốn chữ “Đông Dương thuộc Pháp”. Thực dân Pháp gọi đồng bào ta là lũ Annamít dơ bẩn. Thiên hạ gọi chúng ta là “vong quốc nô” (Chủ tịch Hồ Chí Minh). Giữa bối cảnh ấy, lần lượt các cuộc khởi nghĩa, các phong trào đấu tranh của các tầng lớp cần lao, hoặc bị dìm trong bể máu, hoặc trở nên “cải lương” khi không mang lại kết quả như kỳ vọng. Sự nổi lên và biến mất của các lực lượng lãnh đạo cách mạng lúc bấy giờ, cũng đã phơi bày một hiện thực tàn khốc: Không có lực lượng nào đủ uy tín và có đường lối đúng đắn để đảm đương ngọn cờ dân tộc, khiến cho cách mạng Việt Nam “đen tối như không có đường ra”.

Lịch sử đặt ra yêu cầu phải tìm được một đường lối cứu nước đúng đắn, một phương pháp cách mạng khoa học để giải phóng dân tộc, đưa đất nước tiếp tục đi lên theo trào lưu chung của nhân loại. Để rồi, câu hỏi can hệ đến sự tồn vong của quốc gia - dân tộc, đã được “Người Việt Nam đẹp nhất” - Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh tìm thấy sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước.

Người đã trả lời những câu hỏi khó của lịch sử, rằng: “Ai là những người làm cách mệnh?”, “Cách mệnh khó hay dễ?”, “Cách mệnh trước hết phải có cái gì?”. Và Người chỉ rõ: “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là Chủ nghĩa Lênin”!

Nắm được yêu cầu có tính quyết định ấy, ngày 3/2/1930 tại Cửu Long, Hương Cảng (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt - Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Với sợi chỉ đỏ xuyên suốt là tư tưởng độc lập, tự do, đây được xem là Cương lĩnh cách mạng đúng đắn và sáng tạo, nhuần nhuyễn quan điểm giai cấp và dân tộc, thấm đẫm tính dân tộc và tính nhân văn, phù hợp với yêu cầu của lịch sử và xu thế phát triển của thời đại.

Có thể khẳng định, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam bước lên vũ đài lịch sử, thì “lời nguyền” về sự “đen tối như không có đường ra” của cách mạng Việt Nam cũng được hóa giải. “Đường Kách mệnh” dưới ánh sáng của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, tạo ra những bước phát triển nhảy vọt trong tiến trình tiến hóa của dân tộc, để làm nên một thời đại rạng rỡ bậc nhất trong lịch sử Việt Nam.

“Đảng cầm cương lịch sử lên cao”

Với đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo, được tổ chức chặt chẽ và thống nhất, ngay từ khi ra đời, Đảng ta “liền giương cao ngọn cờ cách mạng, đoàn kết và lãnh đạo toàn dân ta tiến lên đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Màu cờ đỏ của Đảng chói lọi như mặt trời mới mọc, xé tan cái màn đen tối, soi đường dẫn lối cho Nhân dân ta vững bước tiến lên con đường thắng lợi trong cuộc cách mạng phản đế, phản phong”.

Đảng Cộng sản Việt Nam vừa mới ra đời đã bước vào cuộc thử thách quyết liệt trong lửa đạn đấu tranh. Trong đó, đỉnh cao là Xô viết Nghệ - Tĩnh đã làm sụp đổ chính quyền thực dân cơ sở ở nhiều địa phương thuộc hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Dù bị dập tắt trong một biển máu, nhưng “Xô viết Nghệ - Tĩnh đã chứng tỏ tinh thần oanh liệt và năng lực cách mạng của Nhân dân lao động Việt Nam”. Từ những cuộc tập dượt lớn 1930-1931, 1936-1939 và 1939-1945, bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng càng được đúc kết. Để rồi, chỉ sau 15 năm kể từ khi ra đời, Đảng đã lãnh đạo toàn dân ta vùng lên đập tan gông cùm nô lệ kéo dài gần 1 thế kỷ. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công không chỉ mở ra một kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc - kỷ nguyên độc lập, tự do; mà còn khẳng định trong thực tiễn tư tưởng cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc do Đảng ta vạch ra là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn đất nước và quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam.

Niềm vui đất nước hòa bình, độc lập chưa được bao lâu thì thực dân Pháp trở lại xâm lược. Song, với quyết tâm “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, toàn dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên cường chiến đấu chống xâm lược. Để rồi, với thắng lợi Điện Biên Phủ, lần đầu tiên trong lịch sử "một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là một thắng lợi vẻ vang của Nhân dân Việt Nam; đồng thời cũng là một thắng lợi của các lực lượng hòa bình, dân chủ và chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới".

Được tôi luyện trong lò lửa kháng chiến, Đảng ta đã trưởng thành vượt bậc về chính trị và tổ chức. Đây cũng chính là cơ sở vững chắc để Đảng lãnh đạo dân tộc ta bước vào cuộc trường chinh mới, đầy thử thách cam go: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.

Quán triệt tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” và đường lối cách mạng độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng, đồng bào ta từ Bắc chí Nam đã không quản gian khổ, hy sinh, anh dũng đứng lên chống Mỹ, cứu nước. Trải qua 21 năm trường kỳ kháng chiến, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, quân và dân ta đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc trên đất nước ta, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Kỳ tích này sẽ “mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc"!

“Hình của Đảng lồng trong hình của Nước"

Đi tìm căn nguyên cho những kỳ tích vĩ đại mà dân tộc Việt Nam đã giành được, kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, hẳn sẽ có vô vàn minh chứng thuyết phục. Nhưng căn nguyên gốc rễ nhất: Đảng là đội tiên phong của dân tộc! Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất được lịch sử, dân tộc và Nhân dân Việt Nam lựa chọn để lãnh đạo đất nước, lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của Nhân dân ta. Do đó, sứ mệnh cao cả và vẻ vang nhất của Đảng là một lòng, một dạ phụng sự Tổ quốc và Nhân dân. Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của Nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác.

Với bản lĩnh và trí tuệ sắc sảo, Đảng ta đã lãnh đạo dân tộc ta giành được những thành tựu vĩ đại (ảnh: Hạc Thành - đô thị hiện đại và giàu tiềm năng phát triển).

Với bản lĩnh và trí tuệ sắc sảo, Đảng ta đã lãnh đạo dân tộc ta giành được những thành tựu vĩ đại (ảnh: Hạc Thành - đô thị hiện đại và giàu tiềm năng phát triển).

Lịch sử vẻ vang của Đảng ta là lịch sử đấu tranh kiên cường vì lợi ích tối cao của dân tộc và hạnh phúc của Nhân dân, cho nên “Hình của Đảng lồng trong hình của Nước”. Và cũng chính mối quan hệ biện chứng, bền chặt vô song giữa Đảng và dân tộc, nên Đảng ta đã hiệu triệu được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, tinh thần chính nghĩa và lương tri thời đại, để làm nên những kỳ tích vĩ đại: Từ thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đến cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ 30 năm đánh đuổi 2 kẻ thù hùng mạnh bậc nhất thế kỷ và cuộc trường chinh “Đổi mới" kéo dài 4 thập kỷ đã định hình lại cơ đồ, vị thế quốc gia - dân tộc. Những thành tựu vĩ đại ấy cũng là minh chứng hùng hồn, khẳng định vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng đối với tiến trình cách mạng Việt Nam.

Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện đã trở thành đội tiên phong cách mạng, bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam; đồng thời, là người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam và là hiện thân cho trí tuệ, danh dự của cả dân tộc. Để rồi, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; với chí khí quả cảm, kiên cường của một dân tộc anh hùng, chúng ta càng thêm tin tưởng và đoàn kết chặt chẽ quanh Đảng, cùng chung ý chí và quyết tâm hiện thực hóa lời hiệu triệu từ Đại hội XIV: “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”!

Bài và ảnh: Lê Dung

Nguồn Thanh Hóa: http://baothanhhoa.vn/dang-ta-la-hien-than-cho-tri-tue-va-danh-du-cua-ca-dan-toc-277328.htm