Đánh thức di sản vùng biên viễn:Kỳ 1 - Giữ hồn cốt nghề dệt vải lanh trong nếp sống người Mông

Nằm dưới chân cổng trời Quản Bạ, xã Lùng Tám (Tuyên Quang) từ lâu nổi tiếng với nghề dệt lanh truyền thống của đồng bào Mông. Không chỉ tạo nên những tấm vải tinh xảo, cây lanh còn gắn bó mật thiết với đời sống tâm linh, phong tục, tập quán và trở thành biểu tượng văn hóa được người dân nơi đây gìn giữ qua nhiều thế hệ.

Sợi lanh trong tâm thức cội nguồn

Chúng tôi chạm ngõ xã Lùng Tám khi vệt nắng cuối ngày dần tắt sau dãy núi đá tai mèo Hà Giang cũ (nay là tỉnh Tuyên Quang). Giữa khoảng không gian tĩnh mịch của vùng cao Quản Bạ, những vạt khói bếp lam chiều mỏng mảnh bắt đầu cuộn lên từ mái nhà trình tường mộc mạc, tỏa mùi gỗ ngai ngái hòa lẫn trong cái lạnh hanh hao.

Thung lũng Hợp Tiến nằm gọn dưới triền đá núi với hơn trăm nóc nhà bên dòng sông Miện êm đềm trôi, từ lâu đã trở thành điểm đến hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước, không chỉ bởi cảnh sắc thiên nhiên sơn thủy hữu tình mà còn bởi nơi đây lưu giữ nghề trồng lanh, dệt vải, nhuộm chàm truyền thống có lịch sử hàng trăm năm của người Mông trên cao nguyên đá.

Nằm dưới chân cổng trời Quản Bạ, làng dệt lanh Lùng Tám cách trung tâm TP. Hà Giang (cũ) khoảng 60 km. Dưới ánh hoàng hôn, âm thanh quen thuộc đầu tiên chạm vào giác quan chính là tiếng "sột soạt" nhịp nhàng của vỏ cây lanh khô tước ra từ tay các bà, các chị bên hiên nhà, cùng tiếng lách cách phát ra liên hồi từ những khung dệt gỗ cổ truyền.

Nghề dệt lanh truyền thống của đồng bào Mông (Tuyên Quang) vẫn được gìn giữ, phát huy

Nghề dệt lanh truyền thống của đồng bào Mông (Tuyên Quang) vẫn được gìn giữ, phát huy

Sợi lanh ở Lùng Tám không chỉ đơn thuần là nguyên liệu thủ công mà đã bám rễ vào mảnh đất đá hộc, cắm sâu vào mạch sống sinh hoạt và trở thành một phần di sản không thể tách rời trong đời sống tâm linh, văn hóa của dân tộc Mông qua nhiều thế hệ.

Đối với đồng bào Mông sinh sống tại xã Lùng Tám nói riêng và trên dải đất cao nguyên đá Tuyên Quang nói chung, cây lanh không chỉ đơn thuần là nguyên liệu dùng để dệt nên những tấm vải may mặc hàng ngày mà còn mang ý nghĩa tâm linh đặc biệt và trở thành một biểu tượng văn hóa xuyên suốt đời người nơi đây.

Đồng bào Mông quan niệm rằng vải lanh chính là sợi dây linh thiêng giúp gắn kết giữa con cháu ở cõi thực với tổ tiên ở cõi vĩnh hằng. Họ tin rằng khi qua đời, mỗi người bắt buộc phải mặc trên mình bộ trang phục làm từ vải lanh thì hương linh mới có thể tìm được đường trở về với cội nguồn tổ tiên.

Chính vì mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc, các phong tục gắn liền với sợi lanh đã được trao truyền bền bỉ qua từng thế hệ. Theo các cụ cao niên tại địa phương kể lại, con gái Mông ngay từ khi đến tuổi trưởng thành đã được tự tay trồng lanh, rồi từ đó bắt đầu học từng bước se sợi, dệt vải.

Công đoạn dệt vải lanh trên khung dệt gỗ truyền thống

Công đoạn dệt vải lanh trên khung dệt gỗ truyền thống

Việc dệt vải lanh không chỉ thể hiện sự khéo tay, chăm chỉ mà từ lâu đã trở thành một trong những tiêu chí quan trọng thể hiện tài năng, phẩm hạnh của một người phụ nữ trong cộng đồng nơi đây.

Trước khi đi lấy chồng, người phụ nữ Mông nhất thiết phải tự dệt và chuẩn bị cho mình ít nhất một bộ quần áo lanh hoàn chỉnh. Đây là điều kiện bắt buộc để khi về nhà chồng, họ được tổ tiên bên nhà chồng đón nhận và phù hộ cho cuộc sống ấm êm, hạnh phúc.

Khoảnh khắc giao thoa giữa hai gia đình trong ngày cưới cũng đậm đà sắc màu của lanh khi cô dâu bước chân về nhà chồng, mẹ chồng sẽ tặng con dâu một bộ lanh như lời đón nhận, che chở. Đáp lại tấm chân tình ấy, cô dâu mới sẽ trân trọng biếu lại mẹ chồng bộ quần áo lanh do chính tay mình dệt và khâu vá.

Búi lanh luôn theo sát người phụ nữ, dù lên nương hay xuống chợ phiên

Búi lanh luôn theo sát người phụ nữ, dù lên nương hay xuống chợ phiên

Những quan niệm văn hóa và tín ngưỡng sâu sắc ấy đã khiến việc trồng lanh, dệt vải không dừng lại ở một công việc thủ công đơn thuần mà trở thành phần việc được phụ nữ Mông học từ khi còn là những cô bé và mang theo trong suốt cuộc đời.

Búi lanh vì thế đã trở thành vật "bất ly thân", luôn theo sát người phụ nữ Mông dù họ lên nương làm rẫy, xuống chợ phiên hay những lúc nghỉ ngơi tại nhà. Chỉ cần có chút thời gian rảnh rỗi, họ lại lấy lanh ra tỉ mẩn cuộn và nối sợi để công việc không bị gián đoạn.

Thách thức gìn giữ hồn cốt văn hóa dân tộc

Để tạo ra một tấm vải lanh truyền thống hoàn chỉnh, người Mông ở Lùng Tám phải trải qua một hành trình vô cùng gian nan. Trò chuyện với PV Văn Hóa, bà Vàng Thị Mai - Chủ nhiệm Hợp tác xã lanh Lùng Tám chia sẻ, một sản phẩm lanh hoàn thiện phải trải qua đúng 41 công đoạn hoàn toàn thủ công. Mỗi bước trong quy trình này đều đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ, tính kiên nhẫn và lượng thời gian lao động rất lớn từ người thợ.

"Mọi công đoạn bắt đầu từ việc gieo hạt lanh trên nương, sau khoảng 2 tháng, cây lanh được thu hoạch. Thời điểm thu hái mang tính quyết định rất lớn đến chất lượng của sợi, bởi nếu thu hoạch quá sớm sợi lanh sẽ dai nhưng khó làm, còn nếu thu hoạch quá muộn việc bóc tách vỏ sẽ gặp rất nhiều khó khăn", bà Mai nói.

Mỗi công đoạn đều đòi hỏi sự tỉ mỉ, kiên nhẫn cùng thời lượng lao động rất lớn để cho ra tấm vải lanh hoàn thiện

Mỗi công đoạn đều đòi hỏi sự tỉ mỉ, kiên nhẫn cùng thời lượng lao động rất lớn để cho ra tấm vải lanh hoàn thiện

Vỏ lanh khi bóc tách phải thực hiện trong điều kiện không có nắng và gió để tránh tình trạng vỏ lanh bị khô giòn rồi dính chặt vào thân cây. Đặc biệt, người dân phải tranh thủ phơi khô và tước lấy sợi trước khi những đợt gió mùa đông bắc tràn về, bởi hơi lạnh và gió khô sẽ làm sợi lanh bị giòn, giảm độ bền và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tấm vải.

Sau khi tước thành từng sợi nhỏ, phần vỏ lanh được cho vào cối đá giã đều tay đến khi sợi xoăn và mềm lại. Tiếp đó là công đoạn nối sợi là một trong những phần việc đòi hỏi sự kiên nhẫn nhất.

Người phụ nữ nối từng đoạn sợi bằng cách cuộn trực tiếp vào tay hoặc que gỗ, tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc nối ngọn với ngọn, gốc với gốc để đảm bảo các đoạn nối đều nhau về bề rộng, giúp thớ sợi không bị nham nhở.

Những sợi lanh được ngâm, luộc với nước tro bếp, đây là một phương pháp tẩy trắng và làm mềm tự nhiên

Những sợi lanh được ngâm, luộc với nước tro bếp, đây là một phương pháp tẩy trắng và làm mềm tự nhiên

Nối sợi xong, sợi lanh được đem ngâm trong nước lạnh từ 15 - 20 phút rồi mới đưa lên khung se sợi và guồng quay để tăng độ dẻo dai. Để sợi chắc và đều hơn, dân tộc Mông còn sử dụng một dụng cụ đặc biệt giúp phối hợp nhịp nhàng giữa tay và chân, cho phép se nhiều sợi cùng một lúc.

Tiếp đến, những búi sợi lanh được ngâm, luộc nhiều lần với nước tro bếp. Đây là một phương pháp tẩy trắng và làm mềm tự nhiên độc đáo. Ở lần luộc cuối cùng, người thợ sẽ cho thêm sáp ong giúp sợi mượt, trơn và dẻo hơn.

Công đoạn làm mềm sợi vẫn giữ nguyên phương pháp cổ truyền, các bó sợi lanh sau khi luộc được đặt lên một khúc gỗ tròn, bên trên đè một tấm đá phẳng lớn. Người phụ nữ Mông sẽ đứng lên tấm đá, khéo léo dùng chân nhún đều để tấm đá lăn qua lăn lại trên khúc gỗ. Lực nén này giúp sợi lanh trở nên mềm mại và trắng sáng.

Những tấm vải sau đó sẽ được người dân dùng khúc gỗ, chân đứng trên tấm đá lăn qua lăn lại giúp sợi lanh trở nên mềm mại

Những tấm vải sau đó sẽ được người dân dùng khúc gỗ, chân đứng trên tấm đá lăn qua lăn lại giúp sợi lanh trở nên mềm mại

Khi sợi đã đạt đầy đủ yêu cầu về độ mịn và độ bền, người phụ nữ mới tiến hành dựng khung và đưa sợi lên khung cửi để dệt. Công việc dệt vải thường kéo dài hàng tháng trời vì họ chỉ có thể tranh thủ thực hiện sau khi đã hoàn thành việc đồng áng và chăm lo xong bữa ăn, việc gia đình.

Tấm vải dệt xong vẫn chưa thể sử dụng ngay mà tiếp tục trải qua các bước luộc, giặt sạch, phơi khô và cán phẳng nhiều lần trước khi bước sang công đoạn nhuộm màu.

Người Mông ở Lùng Tám sử dụng kỹ thuật nhuộm chàm truyền thống, tấm vải phải được ngâm, nhuộm nhiều lần trong cối nhuộm suốt hàng tháng trời mới đạt được màu sắc đậm đà như ý. Ngoài màu chàm, họ còn khai thác các loại lá cây, rễ cây, vỏ gỗ từ núi rừng tự nhiên để tạo ra những gam màu bền đẹp, hoàn toàn không sử dụng hóa chất.

Điểm đặc biệt và kỳ công nhất trong nghệ thuật làm vải lanh chính là công đoạn vẽ sáp ong tạo hoa văn. Công đoạn này phụ thuộc chặt chẽ vào thời tiết, chỉ khi thời tiết chuyển sang mùa hè nắng ấm mới có thể thực hiện được.

Quy trình vẽ sáp ong cũng là điểm đặc biệt và kỳ công nhất

Quy trình vẽ sáp ong cũng là điểm đặc biệt và kỳ công nhất

Nghệ nhân phải ngồi nhiều giờ, nhiều ngày bên bếp than hồng đun chảo sáp ong nghi ngút khói. Họ sử dụng bộ bút vẽ được chế tạo thủ công từ thanh tre dài khoảng 10 cm, ở đầu có nẹp một lưỡi đồng mỏng.

Người thợ chấm đầu bút vào sáp ong nóng chảy, khéo léo điều khiển nét tay để sáp chảy đều trên mặt vải lanh, kẻ từng đường thẳng, hình tam giác, hình xoắn ốc, hình đồng tiền, chữ thập hay chân chim.

Mỗi hoa văn vẽ ra không chỉ mang tính trang trí mà còn kể lại những câu chuyện về thiên nhiên, mùa màng, phản ánh quan niệm về vũ trụ và tín ngưỡng của cả cộng đồng.

Chính bởi sự công phu và tỉ mỉ qua hàng chục công đoạn như vậy, để hoàn thành được một bộ trang phục truyền thống hoàn chỉnh, người thợ Mông có khi phải dành gần một năm lao động liên tục.

Những sản phẩm từ vải lanh với mẫu mã đa dạng

Những sản phẩm từ vải lanh với mẫu mã đa dạng

Quãng thời gian lao động kéo dài cùng sức ép từ nhịp sống hiện đại đã từng khiến nghề dệt lanh đứng trước nguy cơ mai một khi giới trẻ dần không còn mặn mà với công việc đòi hỏi quá nhiều thời gian và sức lực.

Tuy nhiên, chính sự kiên trì của các thế hệ nghệ nhân cùng nền tảng văn hóa dân tộc bền chặt đã trở thành điểm tựa vững chắc nhất.

Đêm xuống trên thung lũng Lùng Tám, bếp than giữa gian nhà trình tường vẫn giữ lại vệt than hồng ấm áp. Trải qua bao biến thiên, những sợi lanh mộc mạc nơi đây vẫn tiếp tục được nối dài qua đôi bàn tay cần mẫn, giữ trọn nét tinh hoa thủ công và gửi gắm trọn vẹn tâm huyết của người phụ nữ vùng cao giữa miền cao nguyên đá Tuyên Quang.

NGUYỄN HOÀN

Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/dan-toc-ton-giao/ky-1-giu-hon-cot-nghe-det-vai-lanh-trong-nep-song-nguoi-mong-262825.html