Đánh thức tiềm năng biển, khơi dậy động lực tăng trưởng
Không gian biển của Việt Nam vẫn còn nhiều dư địa phát triển các ngành kinh tế mới. Tuy nhiên, để khai thác hiệu quả những tiềm năng từ biển, cần cấp thiết tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế cũng như tăng cường liên kết giữa các ngành, địa phương ven biển theo đúng định hướng của Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Báo Kiểm toán đã có những trao đổi với Phó Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Nguyễn Việt Dũng về vấn đề này.

Phó Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Nguyễn Việt Dũng
Thưa ông, ông đánh giá ra sao về thực trạng phát triển kinh tế biển của Việt Nam hiện nay, nhất là việc khai thác và phát huy tiềm năng, lợi thế của biển?
Có thể khẳng định rằng, sau nhiều năm triển khai các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, kinh tế biển Việt Nam đã có bước phát triển tích cực, vai trò của biển đối với phát triển kinh tế - xã hội ngày càng được khẳng định.
Quan trọng hơn, nhận thức về biển đã có sự chuyển biến rõ rệt, từ chỗ chủ yếu nhìn nhận biển như một nguồn tài nguyên để khai thác sang coi biển là một không gian phát triển chiến lược của quốc gia.
Một điểm đáng chú ý là, sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính từ ngày 01/7/2025, 21/34 tỉnh, thành phố có biển có tổng quy mô GRDP chiếm khoảng 66,89% GDP của cả nước. Đây là minh chứng cho thấy không gian kinh tế ven biển đang giữ vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Tuy nhiên, đây là tỷ trọng GRDP của các địa phương có biển, không phải tỷ trọng đóng góp của riêng các ngành kinh tế biển. Việc thống kê, bóc tách đầy đủ giá trị của kinh tế biển trong GDP quốc gia vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện.
Về những kết quả nổi bật, có thể kể đến hệ thống cảng biển, hàng hải và logistics có bước phát triển mạnh, góp phần nâng cao năng lực kết nối của Việt Nam với khu vực và thế giới. Du lịch biển, đảo và các dịch vụ ven biển tiếp tục phát triển, trở thành động lực quan trọng tại nhiều địa phương. Thủy sản có sự chuyển dịch theo hướng bền vững hơn, từng bước giảm áp lực khai thác ven bờ, thúc đẩy nuôi biển, chế biến sâu và nâng cao giá trị chuỗi sản phẩm. Ngoài ra, các tiềm năng mới như năng lượng biển, đặc biệt là điện gió ngoài khơi, kinh tế sinh học biển, dịch vụ và công nghệ biển ngày càng được quan tâm.
Việc xây dựng và triển khai Quy hoạch không gian biển quốc gia là một bước tiến quan trọng, tạo cơ sở để quản lý, phân bổ và sử dụng không gian biển hiệu quả hơn. Đặc biệt, sự ra đời của Nghị quyết số 20-NQ/TW đang mở ra bước ngoặt chiến lược đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, phát triển bền vững và giàu từ biển
Động lực tăng trưởng mới từ biển phải được hình thành trên cơ sở kết nối các ngành và kết nối biển với đất liền, tạo ra những hệ sinh thái kinh tế biển có giá trị gia tăng cao. Đó cũng chính là cách để chuyển từ tư duy “khai thác tiềm năng” sang “tạo ra giá trị từ không gian biển”.
Qua kiểm toán, KTNN có thể đánh giá việc quản lý, sử dụng nguồn lực công được đầu tư cho hạ tầng cảng biển, hay các chương trình, dự án liên quan đến phát triển các ngành kinh tế biển có được sử dụng đúng mục đích; có tạo ra giá trị tương xứng với nguồn lực công hay không.
Vậy theo ông, đâu là những lĩnh vực có khả năng trở thành động lực tăng trưởng mới từ biển trong thời gian tới?

Không gian biển của Việt Nam vẫn còn nhiều dư địa phát triển các ngành kinh tế mới. Ảnh: TL
Tôi cho rằng trong thời gian tới, một số lĩnh vực có khả năng tạo ra động lực tăng trưởng mới.
Thứ nhất là năng lượng biển, đặc biệt điện gió ngoài khơi. Đây không chỉ là câu chuyện sản xuất điện mà còn có thể tạo ra cả một hệ sinh thái công nghiệp và dịch vụ ngoài khơi, từ khảo sát, cảng biển, đóng tàu, chế tạo thiết bị đến lắp đặt, vận hành và bảo dưỡng.
Thứ hai là nuôi biển công nghiệp và kinh tế sinh học biển. Việt Nam có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển nuôi biển quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao, gắn với chế biến và thị trường quốc tế. Xa hơn, tài nguyên sinh học biển có thể tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng cao trong lĩnh vực dược phẩm, thực phẩm, mỹ phẩm và công nghệ sinh học.
Thứ ba là dịch vụ hàng hải, logistics và các ngành công nghiệp gắn với cảng biển. Lợi thế vị trí địa lý của Việt Nam cần được chuyển hóa thành năng lực tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.
Thứ tư là phát triển các trung tâm và cụm liên kết kinh tế biển. Đây là điểm rất quan trọng. Cảng biển không nên phát triển tách rời mà phải gắn với logistics, công nghiệp, năng lượng, đô thị và các vùng sản xuất trong đất liền để hình thành những chuỗi giá trị lớn hơn.
Thứ năm là du lịch biển, đảo chất lượng cao, kinh tế đảo, khoa học - công nghệ biển và các dịch vụ dựa trên dữ liệu biển cùng những dư địa cần tiếp tục khai thác, phát huy. Điều quan trọng là chúng ta không nên nhìn các ngành trên như những ngành riêng biệt.
Để phát triển kinh tế biển theo hướng hiện đại, có giá trị gia tăng cao và bền vững, cần tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn nào về thể chế cũng như liên kết giữa các ngành, địa phương ven biển, thưa ông?
Để biến các tiềm năng thành giá trị, có một số vấn đề cần được quan tâm giải quyết kịp thời theo đúng tinh thần của Nghị quyết 20-NQ/TW.
Thứ nhất, cần thể chế hóa và cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng. Biển là không gian đa ngành, trong cùng một khu vực có thể đồng thời có hoạt động hàng hải, thủy sản, du lịch, năng lượng, bảo tồn và quốc phòng, an ninh. Vì vậy, nếu mỗi ngành hoặc mỗi địa phương chỉ nhìn từ lợi ích riêng thì rất dễ phát sinh chồng lấn và xung đột trong sử dụng không gian biển. Thay vì mỗi địa phương phát triển một cách tương đối độc lập, cần hình thành các cụm liên kết và chuỗi giá trị có quy mô vùng, thậm chí liên vùng.
Thứ hai, công tác quy hoạch và tổ chức không gian biển cần tiếp tục được cụ thể hóa và đồng bộ với quy hoạch ngành, quy hoạch vùng và địa phương. Quy hoạch không gian biển quốc gia đã tạo nền tảng quan trọng, nhưng vấn đề tiếp theo là phải tổ chức thực hiện tốt trên thực tế.
Thứ ba, khoa học công nghệ, dữ liệu và nguồn nhân lực biển chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của một nền kinh tế biển hiện đại. Do đó, để giải quyết tốt các vấn đề này, theo tôi, cần một cách tiếp cận tổng thể hơn: Quản lý tốt không gian biển, hoàn thiện thể chế, đồng bộ hạ tầng, tăng cường liên kết và lấy khoa học công nghệ, dữ liệu làm nền tảng.
Điều đặc biệt, việc phát triển kinh tế biển theo hướng hiện đại, gia tăng giá trị và bền vững không thể thiếu vai trò của cơ quan Kiểm toán nhà nước (KTNN).
Qua kiểm toán, KTNN cũng có thể chỉ ra những điểm bất cập của quy định pháp luật, những khoảng trống chính sách, từ đó có thể kiến nghị sửa đổi, bổ sung, thay thế các quy định không còn phù hợp. Bên cạnh đó, KTNN cũng thực hiện kiểm toán đánh giá việc tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường, từ đó nhận diện, cảnh báo những rủi ro có thể tác động đến môi trường biển giúp các cơ quan, địa phương phòng ngừa từ sớm, từ xa.
