Đào tạo nghề đúng đối tượng và nhu cầu việc làm, góp phần giảm nghèo bền vững
Đào tạo nghề cho người nghèo cần được tổ chức linh hoạt, sát điều kiện thực tế, đồng thời gắn chặt với sinh kế và việc làm sau đào tạo.

Đào tạo nghề tại Trường Trung cấp nghề Thạch Thành (Thanh Hóa).
Chọn nghề phù hợp để tạo sinh kế
Đào tạo nghề cho người lao động thuộc các nhóm yếu thế có ý nghĩa quan trọng đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, nhất là tại những địa bàn miền núi, vùng còn nhiều khó khăn. Với nhóm đối tượng này, học nghề không chỉ nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng mà còn hướng tới tạo sinh kế, nâng cao thu nhập và góp phần giảm nghèo bền vững.
Tại Trường Trung cấp nghề Thạch Thành (Thanh Hóa), nhiệm vụ đào tạo nghề cho người lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và người có thu nhập thấp được xác định là một trong những nội dung trọng tâm.
Theo bà Mai Thị Vân, Hiệu trưởng nhà trường, với đặc thù là cơ sở giáo dục nghề nghiệp đóng trên địa bàn miền núi, trường chú trọng tuyên truyền, tư vấn để người dân nhận thức rõ học nghề là một con đường thiết thực nhằm nâng cao cơ hội việc làm, cải thiện thu nhập.
Các nghề đào tạo được lựa chọn theo hướng phù hợp với điều kiện kinh tế, trình độ của người học và nhu cầu lao động tại địa phương. Trong đó, nghề chăn nuôi thú y, chăn nuôi gia súc, gia cầm có nhiều thuận lợi đối với lao động nông thôn, bởi người học có thể áp dụng kiến thức ngay tại gia đình, trang trại hoặc tham gia các mô hình sản xuất của hợp tác xã.
Trong khi đó, các nghề hàn, may thời trang, sửa chữa thiết bị may có khả năng giúp người học tìm việc tại doanh nghiệp hoặc tự tạo việc làm. Việc lựa chọn nghề theo hướng này giúp quá trình đào tạo gắn hơn với điều kiện sản xuất, việc làm và khả năng tạo sinh kế của người dân địa phương.
Tuy nhiên, theo bà Mai Thị Vân, triển khai đào tạo nghề cho nhóm lao động yếu thế vẫn gặp không ít khó khăn. Một bộ phận người lao động còn tâm lý ngại học nghề, chưa nhận thức đầy đủ về giá trị của kỹ năng nghề. Điều kiện kinh tế khó khăn cũng khiến nhiều người phải ưu tiên việc làm trước mắt thay vì dành thời gian tham gia một khóa học.
Với những người ở xa trường, việc đi lại và duy trì học tập cũng là trở ngại. Trong khi đó, nhu cầu học nghề của người dân thay đổi khá nhanh theo thị trường lao động, đặt ra yêu cầu các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải thường xuyên cập nhật, điều chỉnh hoạt động đào tạo.
Từ thực tế đó, bà Mai Thị Vân cho rằng để đào tạo nghề cho người nghèo, người thu nhập thấp đạt hiệu quả cao hơn, cần bảo đảm ba yếu tố: đúng đối tượng - đúng nghề - đúng nhu cầu việc làm.
Cùng với chính sách hỗ trợ chi phí học nghề, cần quan tâm đến chi phí đi lại, sinh hoạt, dụng cụ học tập và điều kiện thực hành cho người có hoàn cảnh khó khăn. Chương trình đào tạo cũng cần linh hoạt hơn về thời gian, địa điểm và phương thức tổ chức để người lao động có thể vừa học nghề vừa duy trì sinh kế.
Quan trọng hơn, đào tạo nghề cần gắn ngay với đầu ra. Người lao động cần biết học nghề gì, học xong làm ở đâu, thu nhập dự kiến như thế nào và có thể tự tạo việc làm ra sao. “Đây là yếu tố quyết định sức hút của giáo dục nghề nghiệp đối với người dân vùng khó”, bà Mai Thị Vân khẳng định.

Trung tâm GDNN - GDTX Nam Quảng Trị khai giảng lớp kỹ thuật chế biến món ăn.
Linh hoạt cách tổ chức, tháo gỡ rào cản
Từ thực tiễn tại Trung tâm GDNN - GDTX Nam Quảng Trị, ông Lê Văn Hòa, Giám đốc Trung tâm, cho biết công tác đào tạo nghề cho nhóm hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và người có thu nhập thấp có những đặc thù riêng, đòi hỏi cách tổ chức phù hợp với điều kiện dân cư và khả năng tham gia của người học.
Trên địa bàn gồm Cam Lộ, Hiếu Giang, Đông Hà và Nam Đông Hà, tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo hiện rất thấp. Các đối tượng thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo còn lại chủ yếu là những trường hợp không có khả năng lao động, người khuyết tật và đối tượng bảo trợ xã hội.
Đáng chú ý, dân cư phân bố ở nhiều khu vực khác nhau, khoảng cách giữa các hộ tương đối xa. Vì vậy, việc tập hợp người lao động có cùng nhu cầu để tổ chức thành một lớp học tập trung gặp nhiều khó khăn. Trong nhiều trường hợp, số lượng người có nhu cầu học cùng một nghề tại một địa bàn không đủ để mở lớp.
Một khó khăn khác là định mức kinh phí hỗ trợ cho người học thuộc nhóm đối tượng này hiện còn thấp so với thu nhập từ ngày công lao động. Phần lớn người lao động có thu nhập thấp vẫn phải duy trì công việc hằng ngày để bảo đảm cuộc sống gia đình. Khi tham gia học nghề, họ phải nghỉ làm, đồng nghĩa với việc mất thu nhập trong thời gian học. Vì vậy, dù có nhu cầu học nghề nhưng không ít người còn e ngại hoặc không thể bố trí thời gian để tham gia đầy đủ một khóa học.
“Những đặc điểm trên cho thấy việc đào tạo nghề cho nhóm đối tượng hộ nghèo, hộ cận nghèo, người mới thoát nghèo và người có thu nhập thấp trên địa bàn có tính đặc thù cao. Không thể áp dụng hoàn toàn cách tổ chức đào tạo tập trung theo một mô hình chung, mà cần căn cứ vào khả năng lao động, điều kiện sức khỏe, hoàn cảnh gia đình, địa bàn cư trú, thời gian có thể tham gia học và nhu cầu nghề nghiệp thực tế của từng nhóm đối tượng”, ông Lê Văn Hòa cho hay.
Để chính sách đào tạo nghề thực sự đến được với người dân, theo ông Lê Văn Hòa, cần nghiên cứu linh hoạt hơn về địa điểm, thời gian và hình thức tổ chức lớp học, có thể tổ chức đào tạo theo cụm dân cư hoặc ngay tại địa bàn người học khi đủ điều kiện; đồng thời xem xét mức hỗ trợ phù hợp hơn với thực tế thu nhập và chi phí cơ hội của người lao động.
Một thuận lợi hiện nay là nguồn kinh phí hỗ trợ từ Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững còn khá nhiều, tạo điều kiện để triển khai các hoạt động đào tạo nghề cho người lao động thuộc nhóm đối tượng chính sách.
Tuy nhiên, khó khăn là nguồn kinh phí hỗ trợ trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ dạy nghề hiện chưa được thực hiện đối với Trung tâm do không phải là đơn vị thụ hưởng nguồn kinh phí này. Điều đó ảnh hưởng nhất định đến điều kiện tổ chức đào tạo, nhất là đối với những nghề đòi hỏi phải có thiết bị, dụng cụ thực hành.
Bên cạnh đó, nguồn kinh phí đào tạo nghề thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững trong giai đoạn 2026-2030 hiện chưa có hướng dẫn thực hiện cụ thể của các cấp, nên Trung tâm gặp khó khăn trong việc chủ động xây dựng kế hoạch đào tạo nghề trong những năm tiếp theo.
Từ thực tế triển khai, yêu cầu đặt ra không chỉ là bảo đảm nguồn lực hỗ trợ người dân học nghề, mà còn phải thiết kế chính sách phù hợp với đặc điểm của từng nhóm đối tượng và từng địa bàn. Khi người lao động có thể tiếp cận nghề học phù hợp, giảm được những rào cản về thời gian, đi lại và chi phí, đồng thời nhìn thấy rõ cơ hội việc làm hoặc khả năng tự tạo sinh kế sau đào tạo, chính sách đào tạo nghề mới có thể phát huy đầy đủ hiệu quả trong giảm nghèo bền vững.
