Đất rừng chưa có chủ - điểm nghẽn lớn trên hành trình phát triển xanh

Hơn 3,7 triệu ha rừng và đất lâm nghiệp do UBND cấp xã quản lý đang trở thành điểm nghẽn trong quản trị tài nguyên rừng. Những bất cập về pháp lý, dữ liệu và quyền sử dụng đất không chỉ ảnh hưởng đến công tác bảo vệ rừng mà còn cản trở việc đáp ứng EUDR, phát triển thị trường carbon và khai thác hiệu quả nguồn lực xanh cho tăng trưởng bền vững.

Khoảng trống pháp lý trên hơn 3,7 triệu ha đất rừng

Theo ThS. Nguyễn Văn Tiến - Phó Chủ tịch Hội Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, nguyên Vụ trưởng Ban Kinh tế Trung ương, cả nước có hơn 3,07 triệu ha rừng và đất lâm nghiệp do UBND cấp xã quản lý, chiếm khoảng 20,5% tổng diện tích rừng quốc gia. Phần lớn diện tích này là các khu rừng chưa được giao, cho thuê hoặc là đất lâm nghiệp thu hồi từ các nông, lâm trường hoạt động kém hiệu quả.

Dù Luật Lâm nghiệp 2017 giao trách nhiệm quản lý cho UBND cấp xã, song địa vị pháp lý của cấp xã với tư cách chủ thể quản lý rừng vẫn chưa được xác lập đầy đủ. Điều này khiến nhiều địa phương rơi vào tình trạng “quản lý nhưng thiếu quyền và nguồn lực”: có trách nhiệm bảo vệ rừng, nhưng thiếu công cụ pháp lý, kinh phí, nhân lực chuyên môn và cơ chế hưởng lợi tương xứng.

Nếu không sớm xác lập chủ thể quản lý rõ ràng, một nguồn lực quan trọng cho tăng trưởng xanh và hội nhập sẽ tiếp tục bị lãng phí (Ảnh minh họa)

Nếu không sớm xác lập chủ thể quản lý rõ ràng, một nguồn lực quan trọng cho tăng trưởng xanh và hội nhập sẽ tiếp tục bị lãng phí (Ảnh minh họa)

Không chỉ thiếu nguồn lực, chất lượng rừng trên diện tích do cấp xã quản lý cũng ở mức thấp. Tại nhiều địa phương như Gia Lai, Cao Bằng, Lai Châu, Nghệ An hay Tuyên Quang, tỷ lệ rừng nghèo chiếm từ 70% đến trên 90% diện tích. Điều này khiến nhiệm vụ bảo vệ, phục hồi và phát triển rừng càng trở nên khó khăn hơn.

Thực trạng quản lý đất rừng cũng đang bộc lộ nhiều vấn đề phức tạp hơn so với những gì thể hiện trên hồ sơ. Kết quả nghiên cứu “Nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng, đất lâm nghiệp do UBND xã quản lý” tại 6 xã thuộc khu vực nghiên cứu thuộc các tỉnh Phú Thọ, Sơn La, Gia Lai và Đắk Lắk cho thấy hơn 81% diện tích do UBND xã quản lý đang được người dân sử dụng để sản xuất; hơn 11% diện tích bị lấn chiếm và trên 6% sử dụng sai mục đích. “Đáng chú ý, phần lớn các hộ dân đang sử dụng đất lại chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” ông Nguyễn Văn Tiến chia sẻ.

Những con số này phản ánh một thực trạng phổ biến là hiện trạng sử dụng đất đã thay đổi đáng kể nhưng hồ sơ pháp lý chưa theo kịp thực tế. Kết quả rà soát bằng ảnh vệ tinh và khảo sát thực địa còn cho thấy diện tích rừng thực tế thấp hơn hơn 4.400 ha so với số liệu hiện trạng rừng năm 2025. Nhiều khu vực trên hồ sơ vẫn là đất lâm nghiệp nhưng trên thực tế đã được sử dụng để sản xuất nông nghiệp từ nhiều năm trước.

Thực tế tại xã Nậm Lầu (Sơn La), địa phương đang quản lý khoảng 1.642 ha rừng và đất lâm nghiệp. Theo ông Cầm Bun Lộc, Chủ tịch UBND xã, giá cà phê tăng cao trong những năm gần đây đã tạo áp lực lớn lên công tác bảo vệ rừng. Năm 2025, xã đã xử lý nhiều trường hợp chuyển đổi đất rừng sang trồng cà phê với tổng diện tích khoảng 1,1 ha. Một số diện tích vi phạm đã bị yêu cầu khôi phục hiện trạng, song nguy cơ tái diễn vẫn hiện hữu do lợi nhuận từ cây cà phê còn hấp dẫn.

Theo lãnh đạo địa phương, ba khó khăn lớn nhất hiện nay là dữ liệu quản lý chưa đầy đủ và thiếu chính xác; nguồn lực thực thi còn hạn chế; và vai trò pháp lý của UBND cấp xã trong quản lý rừng chưa được quy định rõ ràng. Nói cách khác, cấp xã đang đứng ở tuyến đầu của quản lý rừng nhưng lại chưa có đủ điều kiện để thực hiện đầy đủ trách nhiệm được giao.

Gỡ điểm nghẽn để tận dụng cơ hội từ EUDR và thị trường carbon

Những bất cập trong quản lý đất rừng hiện nay không chỉ là vấn đề nội tại của ngành lâm nghiệp mà đang tác động trực tiếp tới khả năng hội nhập của nông sản và lâm sản Việt Nam.

TS. Nguyễn Vinh Quang, Chuyên gia phân tích chính sách của Tổ chức Forest Trends, cho biết nhiều diện tích đất lâm nghiệp do xã quản lý đã và đang được người dân sử dụng để trồng cà phê, keo, bạch đàn, điều hoặc các loại cây nông nghiệp khác trong thời gian dài nhưng chưa được hoàn thiện về mặt pháp lý. Tại xã Vĩnh Thạnh (Gia Lai), nhiều hộ dân đã canh tác ổn định trên các diện tích có nguồn gốc từ lâm trường cũ hơn 20 năm nay nhưng quyền sử dụng đất vẫn chưa được xử lý dứt điểm.

Đây là thách thức đáng lưu ý trong bối cảnh Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) sẽ chính thức có hiệu lực từ cuối năm 2026. Quy định này yêu cầu các sản phẩm như cà phê, gỗ và các mặt hàng liên quan phải chứng minh không gây mất rừng sau ngày 31/12/2020 và có khả năng truy xuất nguồn gốc đến từng lô đất sản xuất.

Với những khu vực có hồ sơ đất đai chưa hoàn chỉnh, dữ liệu thiếu đồng bộ và ranh giới sử dụng đất chưa rõ ràng, khả năng đáp ứng các yêu cầu của EUDR sẽ gặp nhiều khó khăn. Nếu không xử lý dứt điểm, nhiều vùng nguyên liệu có thể gặp rủi ro khi doanh nghiệp cần chứng minh tính hợp pháp và nguồn gốc của sản phẩm trước các thị trường nhập khẩu.

TS. Hà Công Tuấn, Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam cho rằng, vấn đề đất rừng chưa được giao hoặc cho thuê cần được nhìn nhận như một bài toán phát triển thay vì chỉ là vấn đề quản lý hành chính. Hiện cả nước còn khoảng 3,7 triệu ha rừng và đất lâm nghiệp chưa được giao, chưa được cho thuê, tương đương hơn 20% diện tích rừng toàn quốc. Đây là một trong những nguồn lực đất đai lớn nhất còn chưa được khai thác hiệu quả.

Từ góc nhìn này, việc để một quỹ đất khổng lồ tồn tại trong tình trạng thiếu chủ thể rõ ràng không chỉ làm suy yếu hiệu quả quản lý mà còn hạn chế khả năng tạo sinh kế, thu hút đầu tư, phục hồi rừng và phát triển các giá trị kinh tế mới từ dịch vụ môi trường rừng, tín chỉ carbon và tài chính xanh.

Để tháo gỡ điểm nghẽn, các chuyên gia cho rằng cần khẩn trương rà soát toàn diện hiện trạng sử dụng đất, hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai và tài nguyên rừng theo nguyên tắc “đúng, đủ, sạch, sống”. Dữ liệu phải phản ánh đúng thực địa, đầy đủ thông tin pháp lý, được chuẩn hóa và cập nhật thường xuyên, thay vì tồn tại rời rạc giữa các ngành, các cấp.

Cùng với đó, cần đẩy nhanh giao đất, giao rừng, xác lập rõ chủ thể quản lý đối với từng diện tích cụ thể và xử lý dứt điểm tình trạng chồng lấn giữa đất lâm nghiệp với đất sản xuất nông nghiệp. Các chính sách liên quan đến giao khoán rừng, cho thuê rừng, quản lý tài sản công và hỗ trợ vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi cũng cần được rà soát để phù hợp hơn với thực tiễn.

Đặc biệt, nếu tiếp tục giao trách nhiệm lớn cho cấp xã, cần có cơ chế tài chính và nhân lực tương xứng để địa phương có thể tuần tra, bảo vệ rừng, cập nhật dữ liệu và xử lý vi phạm. Quản lý rừng không thể hiệu quả nếu chỉ dừng ở trách nhiệm hành chính mà thiếu nguồn lực thực thi.

Trà Giang

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/dat-rung-chua-co-chu-diem-nghen-lon-tren-hanh-trinh-phat-trien-xanh-183108.html