Dấu ấn cuộc khởi nghĩa Lam Sơn qua truyền thuyết, huyền thoại trên mảnh đất xứ Thanh
Mùa xuân năm 1418, Lê Lợi cùng những hào kiệt chung chí hướng dựng cờ khởi nghĩa, kêu gọi nghĩa sĩ, quân dân đồng lòng đánh đuổi giặc Minh. Xứ Thanh vừa là quê hương của Bình Định vương, vừa là căn cứ xuất phát, chứng kiến những ngày tháng khởi nghĩa gian nan nhất. Có lẽ vì thế, trên mảnh đất này, những câu chuyện về Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn không chỉ được ghi lại trong sử sách mà còn in đậm dấu ấn trong truyền thuyết, huyền thoại, dã sử và ký ức dân gian.

Thác Ma Hao trên vùng núi Chí Linh (xã Linh Sơn) - nơi lưu dấu nhiều truyền thuyết, huyền thoại gắn với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.
Nếu ca dao, dân ca có những ý rất hay bày tỏ lòng yêu mến, kính trọng khi nói về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn như: “Lạy trời cho cả gió lên/ Cho cờ vua Bình Định bay trên kinh thành” hay “Ai lên Biện Thượng, Lam Sơn/ Nhớ vua Thái Tổ chặn đường quân Minh” thì hệ thống truyền thuyết, huyền thoại, dã sử xoay quanh cuộc khởi nghĩa này trên đất Thanh Hóa cho thấy lát cắt sinh động, đa dạng như những thước phim tái hiện lịch sử.
Nhắc đến hệ thống truyền thuyết, dã sử về Lê Lợi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn trên đất xứ Thanh gợi nhớ về vùng núi rừng Chí Linh trên đất Linh Sơn. Theo các tài liệu ghi chép, trước sự truy đuổi gắt gao của quân địch, nghĩa quân đã ba lần phải rút chạy lên núi Chí Linh. Những truyền thuyết, giai thoại, dã sử cũng từ đây mà hình thành và được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Trong lần Lê Lợi và quân lính bị giặc truy đuổi, đến tối mới tìm được nơi dựng trại, nấu cơm. Đường chật, người đông, nấu được nồi cơm thật vất vả. Ngay đội quân bảo vệ cho Lê Lợi cũng tất bật, vội vàng. Họ mang nồi niêu ra suối để vo gạo, múc nước. Vì kéo nhau xuống suối quá đông, nước cạn, làm vẩn đục dòng nước, đến nỗi khi đem nồi cơm dâng lên chủ tướng có nhiều cát lẫn với cơm. Thấu hiểu và cùng chia sẻ với nỗi gian truân, khó khăn của quân sĩ, Lê Lợi vừa nhai cơm vừa cười, liền đặt cho vùng đất đang đứng chân là Năng Cát. Một truyền thuyết lưu lại cùng với tên làng, bản nhưng phía sau đó là hình ảnh một vị chủ tướng biết chia sẻ cái khó với quân sĩ, không đứng ngoài những nhọc nhằn của cuộc chiến.
Cũng như vùng núi rừng Chí Linh, vùng Cửa Đặt khi ấy giữ một vị trí quan trọng khi vừa có đường thủy, vừa có đường bộ dẫn lên phía sau căn cứ, đồng thời là “cửa ngõ” nối xuống phía Nam, Tây Nam, từ Vấn Mang (mường Ván - Trịnh Vạn), Lẫm Lộ (Lâm Lư) đến các địa phương ở Tây Bắc tỉnh Nghệ An, tạo thành một hậu phương rộng lớn cho hoạt động của nghĩa quân. Trong lần thứ nhất và thứ hai nghĩa quân Lam Sơn rút lên Chí Linh, quân Minh từng theo đường Cửa Đặt tiến lên núi hòng đánh úp. Nắm rõ địa hình, địa thế hiểm trở, Lê Lợi và nghĩa quân đã chủ động bố trí phục binh, đón đánh và tiêu diệt quân địch.
Chính diễn biến cam go của giai đoạn nghĩa quân Lam Sơn hoạt động ở vùng Cửa Đặt đã để lại nhiều truyền thuyết, giai thoại đẹp, nhuốm màu huyền bí. Các thế hệ người dân địa phương còn lưu giữ những câu chuyện về cách nghĩa quân xoay xở trong điều kiện thiếu khó. Nghĩa quân đã dựng lán, hạ trại để tập luyện và rèn binh khí; dấu vết lán trại thì không còn nhưng trên sông vẫn còn hòn đá nơi Lê Lợi cùng Nguyễn Trãi mài son rửa bút (có tích lại nói rằng để chuẩn bị cho những ngày chiến đấu tiếp theo, Lê Lợi chọn nơi đây rèn vũ khí. Khi gươm, giáo làm xong được đem ra hòn đá nơi đây để mài, đến nỗi nước ở khúc sông đó đen như mực nên gọi là hòn Mài Mực). Nơi hòn đá ông ngồi còn vết lõm xuống cạnh chỗ mài mực, chỗ gác bút. Tại ngã ba sông Chu và sông Đặt, người dân địa phương thường để lương thực tiếp tế cho nghĩa quân ở hai bên bờ. Con sông được đặt tên là “Đặt”, nơi hợp lưu gọi là cửa sông Đặt, về sau dân gian quen gọi là Cửa Đặt (Cửa Đạt).
Những truyền thuyết dân gian ấy đã thổi hồn vào cảnh vật như những “dấu mốc mềm” để các thế hệ sau hình dung về những ngày nghĩa quân Lam Sơn vừa chiến đấu, vừa gây dựng lực lượng giữa muôn vàn gian khó. Những câu chuyện ấy, qua thời gian, không chỉ giữ lại dấu ấn của khởi nghĩa Lam Sơn trên đất xứ Thanh mà còn góp phần làm nên một hình tượng Lê Lợi trong ký ức dân gian. Đó là người mà “lịch sử đang chờ đợi”, người được định sẵn là chủ nhân của gươm báu với hai chữ “Thuận thiên” rực sáng. Khoảnh khắc Lê Lợi giương cao gươm báu, hô vang câu thề còn đọng lại mãi trong truyền thuyết dân gian, trong trái tim mỗi người dân nước Việt: “Trời trao gươm báu, quốc thù lẽ nào không trả, nghịch tặc thề chẳng sống chung”.
Phía sau những truyền thuyết, huyền thoại còn lưu truyền mãi trong dân gian là một sự thật lịch sử không thể phai mờ: Chiến thắng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn có một phần sức mạnh từ lòng dân, từ những bản làng sẵn sàng chở che, những con người âm thầm góp sức, góp lương, góp cả niềm tin cho nghĩa quân. Bởi thế, mỗi ngọn núi, dòng sông, mỗi địa danh còn lưu dấu chuyện xưa ở xứ Thanh hôm nay không chỉ kể lại một thời binh lửa, mà còn nhắc nhớ về sức mạnh của lòng dân đã cùng các anh hùng, hào kiệt của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn làm nên một trang sử hào hùng của dân tộc.

