Dấu ấn đặc biệt của di sản Việt Nam trên bản đồ văn hóa nhân loại
Năm 2025 khép lại với một dấu ấn đặc biệt với di sản văn hóa Việt Nam, khi có tới bốn di sản ở các loại hình khác nhau được UNESCO ghi danh: Từ di sản văn hóa thế giới dạng chuỗi liên tỉnh, di sản thiên nhiên liên biên giới, di sản tư liệu âm nhạc cá nhân, đến di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Sự công nhận này không chỉ là niềm tự hào của dân tộc, còn cho thấy năng lực hội nhập quốc tế ngày càng vững chắc của Việt Nam trong lĩnh vực di sản.

Chùa Đồng nằm trên đỉnh cao nhất của núi Yên Tử, được đúc từ chất liệu đồng, mặt bằng kiến trúc của chùa dạng chữ Nhất, kết cấu vững chắc, được đặt trên sập đồng, dạng chân quỳ, dạ cá. Chùa quay hướng Tây Nam, diện tích khoảng 20 m2, chiều cao từ mặt nền đến mái là 3,35m. Ảnh: Minh Đức/TTXVN
Một năm “được mùa” với 4 di sản thế giới được vinh danh
Ngày 12/7/2025, Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc được UNESCO ghi danh vào Danh mục Di sản Văn hóa Thế giới. Đây là di sản văn hóa thế giới dạng chuỗi đầu tiên của Việt Nam, trải rộng trên địa bàn ba tỉnh, thành phố: Quảng Ninh, Bắc Ninh và Hải Phòng được UNESCO công nhận. Việc ghi danh này không chỉ ghi nhận giá trị nổi bật toàn cầu của quần thể di tích, mà còn khẳng định tư tưởng, triết lý và tinh thần nhân văn sâu sắc, cũng như giá trị độc đáo, sống động và có tầm vóc toàn cầu của Phật giáo Trúc Lâm, khởi nguồn từ dãy núi thiêng Yên Tử. Quần thể là bằng chứng cho sự kết hợp độc đáo giữa nhà nước, tôn giáo và nhân dân trong việc hình thành bản sắc dân tộc Việt Nam; cùng cảnh quan linh thiêng được kiến tạo nhờ mối tương tác mật thiết giữa con người và thiên nhiên, dựa trên hệ thống đạo đức đề cao hòa bình, khoan dung, nhân ái.
Chỉ một ngày sau đó, ngày 13/7/2025, UNESCO đã thông qua Quyết định phê duyệt việc điều chỉnh ranh giới Di sản Thiên nhiên Thế giới Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (tỉnh Quảng Trị, Việt Nam), mở rộng sang Vườn quốc gia Hin Nam Nô của Lào, hình thành di sản liên biên giới với tên gọi “Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng và Vườn quốc gia Hin Nam Nô”. Đây là di sản thế giới đa quốc gia đầu tiên của Việt Nam, mang ý nghĩa vượt ra ngoài giá trị tự nhiên, trở thành biểu tượng sinh động cho hợp tác quốc tế, cho tình hữu nghị bền chặt Việt Nam - Lào, cũng như cam kết chung trong bảo vệ các giá trị thiên nhiên toàn cầu.

Bên trong hang Hung Thoòng (vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình). Ảnh: TTXVN phát
Trước đó, ngày 10/4/2025, UNESCO đã ghi danh “Bộ sưu tập của Nhạc sĩ Hoàng Vân” vào Danh mục Ký ức Thế giới. Đây là lần đầu tiên một bộ sưu tập âm nhạc cá nhân của Việt Nam được công nhận là Di sản Tư liệu Thế giới, khẳng định vị thế của âm nhạc Việt Nam trong dòng chảy di sản trí tuệ nhân loại, thể hiện sức sống bền bỉ của văn hóa Việt qua những giai điệu mang dấu ấn lịch sử và tâm hồn dân tộc, đồng thời mở ra một hướng tiếp cận mới trong bảo tồn di sản tư liệu - nơi giá trị sáng tạo cá nhân được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với lịch sử và cộng đồng.
Một dấu ấn nữa cho chuỗi thành tựu năm 2025 là quyết định ngày 9/12/2025 của UNESCO ghi danh Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ (tỉnh Bắc Ninh) vào Danh sách Di sản Văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Đây là di sản phi vật thể đầu tiên của Việt Nam được UNESCO ghi danh ở loại hình nghề làm tranh khắc gỗ dân gian, vừa là sự ghi nhận giá trị độc đáo của một dòng tranh dân gian lâu đời, vừa góp phần kịp thời ghi nhận sự cần thiết có giải pháp bảo vệ và trao truyền đối với một di sản đang đứng trước nguy cơ cao bị mai một.
Thành công năm 2025 là kết quả của sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương, giới khoa học, cộng đồng và các cơ quan đại diện Việt Nam tại UNESCO. UNESCO đánh giá cao kinh nghiệm của Việt Nam trong việc chuẩn bị hồ sơ đề cử di sản, góp phần vào việc nhận diện những giá trị tiêu biểu, phục vụ cho việc lưu giữ, trao truyền, tuyên truyền, quảng bá di sản văn hóa. Quá trình chuẩn bị nhiều hồ sơ kéo dài hàng chục năm, vượt qua không ít thách thức, kể cả nguy cơ bị “trả lại hồ sơ”, đã cho thấy bản lĩnh, kiên trì và trách nhiệm của Việt Nam trong việc bảo vệ di sản theo đúng tinh thần các Công ước của UNESCO.
Khẳng định vị thế của đất nước trên bản đồ di sản thế giới

Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Thị Oanh giới thiệu sản phẩm tranh dân gian Đông Hồ. Ảnh: Thanh Thương/TTXVN
Nói về việc Việt Nam có tới 4 di sản được công nhận trong năm 2025, Phó giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Văn Trụ, Chủ tịch Hội Di sản văn hóa Việt Nam chia sẻ, với tư cách là Chủ tịch Hội Di sản văn hóa Việt Nam và là người hoạt động trong ngành di sản văn hóa Việt Nam, cả với tư cách là công dân Việt Nam, ông cảm thấy hết sức tự hào đối với nền văn hóa dân tộc khi chúng ta có tới 4 di sản được công nhận trong một năm. Việc các di sản văn hóa và thiên nhiên của Việt Nam liên tiếp được UNESCO công nhận không chỉ là dấu mốc quan trọng trong lĩnh vực văn hóa, mà còn là sự khẳng định mạnh mẽ vị thế của đất nước trên bản đồ di sản thế giới. Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Văn Trụ, mỗi di sản được ghi danh đều mang trong mình những giá trị nổi bật toàn cầu, phản ánh chiều sâu lịch sử, bản sắc văn hóa và sức sống bền bỉ của dân tộc Việt Nam qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước.
Trong bức tranh tổng thể ấy, hệ thống di sản của Việt Nam cho thấy sự phong phú, đa dạng hiếm có, bao gồm cả di sản văn hóa vật thể, di sản thiên nhiên và di sản văn hóa phi vật thể. Với hàng chục nghìn di tích trên cả nước, hàng nghìn di tích quốc gia và nhiều di sản được UNESCO vinh danh, Việt Nam được nhìn nhận là một quốc gia có “tầng tầng lớp lớp” giá trị văn hóa được bồi đắp liên tục qua các thế hệ. Điều đó không chỉ thể hiện sức sáng tạo của cộng đồng, mà còn là minh chứng cho khả năng bảo lưu, kế thừa và phát triển văn hóa trong suốt tiến trình lịch sử dân tộc.
Việc UNESCO công nhận di sản trước hết khẳng định giá trị đích thực và tầm vóc quốc tế của các di sản Việt Nam. Đây là kết quả của quá trình đánh giá khoa học nghiêm ngặt, khách quan và toàn diện. Mỗi danh hiệu di sản thế giới là sự thừa nhận rằng những giá trị văn hóa, lịch sử, thẩm mỹ hay tri thức bản địa của Việt Nam có ý nghĩa không chỉ đối với một quốc gia, mà còn đóng góp vào kho tàng chung của nhân loại. Các di sản được UNESCO công nhận còn có ý nghĩa sâu sắc trong việc bồi đắp niềm tự hào dân tộc và củng cố bản sắc văn hóa Việt Nam.

Chùa Côn Sơn được hình thành từ thời Đinh - Lý (thế kỷ 10 - 12) và được phục dựng vào năm 1304, mở rộng vào năm 1329 bởi Đệ nhị Tổ Pháp Loa. Ảnh: Minh Đức/TTXVN
Tuy nhiên, theo Phó giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Văn Trụ, vinh danh chỉ là bước khởi đầu, điều quan trọng hơn cả sau khi di sản được công nhận là công tác bảo tồn và phát huy giá trị một cách bền vững, cũng như việc quảng bá di sản như thế nào để người dân trong nước và cộng đồng quốc tế biết đến. Nếu không có những chương trình hành động cụ thể, không có cơ chế quản lý phù hợp và không gắn bảo tồn với đời sống cộng đồng, thì danh hiệu di sản thế giới sẽ khó phát huy hết ý nghĩa của nó. Vì vậy, việc xây dựng chiến lược bảo vệ lâu dài, tăng cường đầu tư, nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục là yêu cầu cấp thiết.
Phó giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Văn Trụ cũng khẳng định, bảo vệ di sản không phải là trách nhiệm của riêng Nhà nước hay một tổ chức nào, mà là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Sự gắn kết giữa Nhà nước, các nhà khoa học, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp và từng người dân chính là yếu tố quyết định để di sản tiếp tục “sống” trong đời sống đương đại, đồng thời trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển bền vững, nhất là trong lĩnh vực văn hóa và du lịch.
Theo Cục Di sản văn hóa, mỗi di sản thế giới ở Việt Nam được UNESCO công nhận đã và đang góp phần quan trọng cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, góp phần bảo vệ môi trường, tăng trưởng xanh, bền vững, đồng thời qua đó quảng bá văn hóa, đất nước, con người Việt Nam ra thế giới và làm giàu thêm kho tàng văn hóa nhân loại.
Đóng góp này cũng thể hiện cam kết, trách nhiệm của Việt Nam trong bảo vệ các di sản thế giới không chỉ ở Việt Nam mà còn ở khu vực Đông Nam Á, gìn giữ cho hiện tại và trao truyền cho các thế hệ mai sau. Việt Nam, với tư cách là thành viên của Ủy ban Di sản Thế giới nhiệm kỳ 2023- 2027 cũng đang đóng góp tích cực hơn nữa cho việc thực thi Công ước Di sản Thế giới.

Chùa Vĩnh Nghiêm là nơi lưu giữ 3.050 mộc bản có giá trị trên nhiều lĩnh vực. Năm 2012, mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm đã được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Ảnh: Minh Đức/TTXVN
Năm 2025, Việt Nam cũng ghi dấu ấn khi Đại hội đồng UNESCO thông qua sáng kiến “Thập kỷ quốc tế về văn hóa vì phát triển bền vững” do Việt Nam đề xuất. Trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng chấp hành Tổ chức UNESCO, ngày 8/11/2025, tại Kỳ họp lần thứ 43 Đại hội đồng UNESCO ở thành phố Samarkand (Cộng hòa Uzbekistan), đại diện các nước đã đồng thuận thông qua dự thảo Nghị quyết do Việt Nam đề xuất với các đồng tác giả và sự ủng hộ của 71 nước. Nội dung chính Nghị quyết khuyến nghị Đại hội đồng Liên Hợp Quốc xem xét phát động “Thập kỷ quốc tế về văn hóa vì phát triển bền vững” càng sớm càng tốt, ưu tiên cho giai đoạn 2027 - 2036.
Sau gần 40 năm kể từ Thập kỷ quốc tế về phát triển văn hóa 1988 - 1997, đây là lần đầu tiên UNESCO đồng thuận khởi xướng một Thập kỷ quốc tế mới gắn với văn hóa. Sáng kiến “Thập kỷ quốc tế về văn hóa vì phát triển bền vững” do Việt Nam đề xuất, được Đại hội đồng UNESCO thông qua với sự ủng hộ rộng rãi của các quốc gia thành viên, gửi đi thông điệp mạnh mẽ về khát vọng chung tay kiến tạo một tương lai hòa bình, thịnh vượng và nhân văn cho toàn thể nhân loại trên nền tảng tăng cường hợp tác văn hóa ở quy mô toàn cầu.
Bốn di sản UNESCO năm 2025 khẳng định thông điệp văn hóa là động lực phát triển, là nền tảng của hòa bình, là sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên hội nhập. Những thành tựu hôm nay để Việt Nam có thêm niềm tin, nền tảng và trách nhiệm để bước tiếp trên con đường xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hội nhập sâu rộng và phát triển bền vững.












