Dấu ấn mới của PETROVIETNAM trên 'nấc thang' khoa học và công nghệ

PETROVIETNAM tự hào đóng góp hai công trình/cụm công trình trọng điểm trong danh sách 12 công trình/cụm công trình đạt tiêu chuẩn đề nghị xét tặng hai giải thưởng cao quý nhất về Khoa học và công nghệ của quốc gia.

Mỏ Đại Hùng đã được “hồi sinh” nhờ nội lực khoa học công nghệ, tư duy quản trị và bản lĩnh của đội ngũ PETROVIETNAM. (Nguồn: PVN)

Mỏ Đại Hùng đã được “hồi sinh” nhờ nội lực khoa học công nghệ, tư duy quản trị và bản lĩnh của đội ngũ PETROVIETNAM. (Nguồn: PVN)

Hội đồng cấp Nhà nước xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đợt 7 vừa công bố 12 công trình/cụm công trình xuất sắc được đề nghị xét tặng giải. Đóng góp hai dự án tiêu biểu là Công trình “Nghiên cứu phát triển công nghệ sản xuất nhiên liệu đặc chủng phục vụ quốc phòng - an ninh tại Nhà máy Lọc dầu Dung Quất” và Cụm công trình “Nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ có tính sáng tạo để khôi phục, mở rộng và nâng cao hiệu quả thăm dò khai thác mỏ Đại Hùng”, Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PETROVIETNAM) tiếp tục khẳng định sự chú trọng đầu tư cho KH&CN.

Tự chủ nguồn cung nhiên liệu trọng yếu

Công trình “Nghiên cứu phát triển công nghệ sản xuất nhiên liệu đặc chủng phục vụ quốc phòng - an ninh tại Nhà máy Lọc dầu Dung Quất” với đơn vị đề nghị là PETROVIETNAM (cấp cơ sở) và Bộ Tài chính (cấp Bộ). Công trình do tập thể tác giả thuộc PETROVIETNAM và Tổng Công ty Lọc hóa dầu Việt Nam (BSR), Cục Xăng dầu (Bộ Quốc phòng), Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga và Viện Hàn lâm Khoa học Nga thực hiện.

Được triển khai từ năm 2012, BSR đã phối hợp với các đơn vị từng bước nghiên cứu, hoàn thiện và làm chủ công nghệ sản xuất các sản phẩm nhiên liệu đặc chủng. Nhóm tác giả đã giúp Nhà máy chủ động sản xuất nhiên liệu chuyên dụng có yêu cầu kỹ thuật hết sức nghiêm ngặt, phục vụ cho các trang bị quân sự hiện đại như tàu ngầm, tàu chiến. Đây là quá trình đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ với yêu cầu thực tiễn của nhiệm vụ quốc phòng.

Hiện công trình nghiên cứu nhiên liệu đặc chủng phục vụ quốc phòng đã làm chủ và cải tiến thành công quy trình công nghệ tại phân xưởng chưng cất dầu thô (CDU) và phân xưởng xử lý hydro (LCO-HDT) của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất. Qua đó, giúp sản xuất thương mại thành công nhiên liệu đặc chủng diesel DO L-62 theo tiêu chuẩn TCVN/QS 1754:2014.

Ngày 24/8, Đoàn công tác của Bộ Khoa học và Công nghệ đã làm việc với các tác giả, cán bộ liên quan đến công trình nghiên cứu, đồng thời khảo sát thực tế quá trình triển khai, ứng dụng. GS.TS. Vũ Thị Thu Hà, Chủ tịch Hội đồng chuyên ngành cấp Nhà nước thuộc lĩnh vực chế biến dầu khí đánh giá, điểm nổi bật không chỉ nằm ở việc nghiên cứu, phát triển thành công công nghệ sản xuất các sản phẩm nhiên liệu đặc chủng, mà còn ở khả năng đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất thực tế tại một nhà máy lọc dầu quy mô lớn.

Công trình đã tạo ra những sản phẩm đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật khắt khe, phục vụ trực tiếp nhiệm vụ quốc phòng - an ninh, chứng minh năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ và tổ chức sản xuất của đội ngũ kỹ thuật Việt Nam.

Theo GS.TS. Vũ Thị Thu Hà, giá trị của công trình cần được nhìn nhận trên cả ba phương diện: khoa học - công nghệ, hiệu quả kinh tế và ý nghĩa đối với quốc phòng, an ninh. Đặc biệt, trong bối cảnh tình hình địa chính trị thế giới và chuỗi cung ứng toàn cầu có nhiều biến động, việc chủ động nghiên cứu, sản xuất trong nước các loại nhiên liệu đặc chủng có ý nghĩa quan trọng, góp phần giảm sự phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài và nâng cao khả năng bảo đảm nhiên liệu trong những tình huống đặc biệt.

Trên thực tế, kể từ khi đưa vào sản xuất thương mại trong giai đoạn 2022-2025, BSR đã cung ứng hàng trăm nghìn mét khối nhiên liệu Jet A-1K và dầu Diesel DO L-62 phục vụ công tác huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu tại các đơn vị quân đội. Các lô sản phẩm được đánh giá đạt chất lượng theo yêu cầu, quá trình sử dụng thực tế bảo đảm an toàn, không xảy ra sự cố kỹ thuật, góp phần giúp Việt Nam tự chủ nguồn cung nhiên liệu trọng yếu, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu, đáp ứng yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh và an ninh năng lượng quốc gia.

Không chỉ mang ý nghĩa về mặt quốc phòng - an ninh, công trình còn tạo ra hiệu quả kinh tế rõ nét. Theo BSR, tổng kinh phí đầu tư cho nghiên cứu và cải tiến kỹ thuật chỉ khoảng 25,7 tỷ đồng, trong khi tổng doanh thu từ các sản phẩm của công trình đạt 4.058,9 tỷ đồng. Việc chủ động sản xuất trong nước giúp Bộ Quốc phòng tiết kiệm khoảng 15-20% chi phí so với nhập khẩu, tương đương khoảng 610-810 tỷ đồng cho ngân sách quốc phòng; đồng thời giảm thiểu các rủi ro liên quan tỷ giá, vận chuyển và bảo hiểm.

Nhà máy lọc dầu Dung Quất. (Nguồn: PVN)

Nhà máy lọc dầu Dung Quất. (Nguồn: PVN)

Từ góc độ của một doanh nghiệp lọc hóa dầu, thành công của công trình cũng cho thấy năng lực của BSR trong việc biến các yêu cầu đặc thù thành bài toán công nghệ và tổ chức sản xuất. Từ nền tảng công nghệ của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, đội ngũ cán bộ, kỹ sư BSR đã từng bước nghiên cứu, thử nghiệm, hoàn thiện quy trình và đưa sản phẩm vào sản xuất ổn định, đáp ứng các yêu cầu khắt khe của quân đội.

Hồi sinh Đại Hùng từ mỏ “1 USD”

Giải thưởng Hồ Chí Minh về KH&CN đợt 7 cũng đề nghị xét tặng giải thưởng với cụm công trình “Nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ có tính sáng tạo để khôi phục, mở rộng và nâng cao hiệu quả thăm dò khai thác mỏ Đại Hùng”.

Công trình do đơn vị đề nghị là PETROVIETNAM (cấp cơ sở) và Bộ Tài chính (cấp Bộ). Tác giả của cụm công trình là tập thể chuyên gia, nhà khoa học và kỹ sư thuộc PETROVIETNAM và Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP).

Trong lịch sử phát triển của ngành dầu khí Việt Nam, Đại Hùng là một trường hợp đặc biệt. Từ một dự án kém hiệu quả, từng đứng trước nguy cơ dừng khai thác, Đại Hùng đã được “hồi sinh” nhờ nội lực khoa học công nghệ, tư duy quản trị và bản lĩnh của đội ngũ kỹ sư Việt Nam. Vì vậy, công trình nghiên cứu - ứng dụng nhằm khôi phục, mở rộng và nâng cao hiệu quả khai thác tại đây không chỉ là thành tựu kỹ thuật, mà còn mang ý nghĩa chiến lược đối với PVEP và ngành công nghiệp - năng lượng quốc gia.

Đại Hùng nằm tại bể Nam Côn Sơn, trong điều kiện địa chất phức tạp và vùng nước sâu hơn 110m. Giai đoạn 1993-1999, dưới sự vận hành của các nhà thầu quốc tế, việc áp dụng công nghệ khai thác chưa phù hợp đã khiến sản lượng sụt giảm mạnh, từ khoảng 35.000 thùng/ngày xuống còn hơn 2.000 thùng/ngày. Hiệu quả kinh tế không đạt kỳ vọng, các nhà thầu nước ngoài đã chuyển lại cho phía Việt Nam vào năm 1999 với giá tượng trưng 1 USD.

Bước ngoặt đã xuất hiện, tiếp nhận từ năm 2003, PETROVIETNAM và PVEP đã nghiên cứu, áp dụng chuỗi giải pháp công nghệ linh hoạt phù hợp điều kiện đặc thù phức tạp về mặt địa chất, thời tiết khắc nghiệt của mỏ Đại Hùng.

Tổng Giám đốc PVEP Nguyễn Thiện Bảo cho biết, các cải tiến ứng dụng khoa học mang tính đột phá như: ứng dụng trí tuệ nhân tạo, tối ưu hóa thiết kế giếng khoan, áp dụng các phương pháp gia tăng hệ số thu hồi dầu, cũng như cải tiến hệ thống xử lý và vận chuyển dầu ngoài khơi, tái xử lý địa chấn 3D-PSDM để giải mã cấu trúc phân khối, giải pháp wetdock… đã được nghiên cứu để “may đo” riêng cho mỏ Đại Hùng.

Chuỗi giải pháp sáng tạo này đã giúp “hồi sinh” mỏ Đại Hùng, không chỉ giúp duy trì sản lượng ổn định mà còn góp phần gia tăng trữ lượng có thể khai thác của mỏ, đưa doanh thu lũy kế của mỏ Đại Hùng lên hơn 4,1 tỉ USD, đóng góp trọng yếu vào an ninh năng lượng quốc gia; nộp ngân sách hơn 600 triệu USD, gia tăng tài nguyên tại chỗ hơn 183 triệu thùng dầu và tối ưu hóa chi phí vận hành hàng chục triệu USD mỗi năm.

Công trình “hồi sinh” mỏ Đại Hùng đã đem lại doanh thu hơn 4,1 tỷ USD, đóng góp ngân sách Nhà nước hơn 600 triệu USD, gia tăng tài nguyên tại chỗ hơn 183 triệu thùng dầu. (Nguồn: PVN)

Công trình “hồi sinh” mỏ Đại Hùng đã đem lại doanh thu hơn 4,1 tỷ USD, đóng góp ngân sách Nhà nước hơn 600 triệu USD, gia tăng tài nguyên tại chỗ hơn 183 triệu thùng dầu. (Nguồn: PVN)

Đặc biệt, công trình nghiên cứu còn mở ra một không gian phát triển mới cho mỏ. Thành quả rõ nhất của tư duy ấy là Dự án phát triển mỏ Đại Hùng giai đoạn 3. Dự án được phê duyệt kế hoạch phát triển mỏ (FDP) vào tháng 6/2022, có tổng mức đầu tư hơn 400 triệu USD, tổng sản lượng thu hồi dự kiến hơn 22 triệu thùng dầu và 21,4 tỉ bộ khối khí, lưu lượng đỉnh khoảng 9.000 thùng/ngày.

Ngày 7/5/2025, Đại Hùng giai đoạn 3 đã đón dòng dầu thương mại đầu tiên với lưu lượng khoảng 6.000 thùng/ngày, sớm hơn 20 ngày so với kế hoạch hiệu chỉnh. Đây không chỉ là một cột mốc vận hành, mà là bằng chứng cho thấy công trình nghiên cứu - ứng dụng khoa học công nghệ tại Đại Hùng đã chuyển hóa thành năng lực triển khai dự án thực tế, rút ngắn tiến độ và gia tăng hiệu quả đầu tư.

Ý nghĩa lớn nhất của hành trình “hồi sinh” Đại Hùng còn là khẳng định năng lực tự chủ toàn diện của đội ngũ kỹ sư, nhà khoa học và người lao động Việt Nam trong khai thác dầu khí ngoài khơi phức tạp. Từ nghiên cứu, thiết kế, chế tạo đến thi công và vận hành, phần lớn giải pháp đều do lực lượng trong nước đảm nhiệm; riêng Đại Hùng pha 3 được thực hiện bởi lực lượng 100% người Việt trong hệ sinh thái PETROVIETNAM.

Khánh Linh

Nguồn TG&VN: https://baoquocte.vn/dau-an-moi-cua-petrovietnam-tren-nac-thang-khoa-hoc-va-cong-nghe-458781.html