Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực phải gắn với hoàn thiện thể chế

Phát biểu tại phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 2 (Khóa XIV), Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: Kiểm tra giám sát, kiểm soát quyền lực, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn tới cần được đặt trong tổng thể yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước, với cách tiếp cận vừa mang tính hệ thống, vừa có chiều sâu chiến lược.

Đó không chỉ là nhiệm vụ cấp bách thường xuyên nhằm làm trong sạch bộ máy, mà còn là điều kiện nền tảng để củng cố niềm tin của nhân dân, bảo đảm sự ổn định chính trị - xã hội và tạo lập môi trường lành mạnh cho phát triển.

Để làm rõ chủ đề này, phóng viên báo Tin tức và Dân tộc (TTXVN) đã có cuộc phỏng vấn với ông Tráng A Dương - Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Hội đồng Dân tộc của Quốc hội khóa XVI, đại biểu Quốc hội tỉnh Lào Cai về những kết quả cũng như công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn tới.

Ông Tráng A Dương - Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Hội đồng Dân tộc của Quốc hội khóa XVI, đại biểu Quốc hội tỉnh Lào Cai trả lời phỏng vấn phóng viên báo Tin tức và Dân tộc. Ảnh: Quang Vinh

Ông Tráng A Dương - Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Hội đồng Dân tộc của Quốc hội khóa XVI, đại biểu Quốc hội tỉnh Lào Cai trả lời phỏng vấn phóng viên báo Tin tức và Dân tộc. Ảnh: Quang Vinh

Chuyển mạnh từ “xử lý” sang “phòng ngừa”

Thưa ông! Hội nghị Trung ương 2 (khóa XIV) đánh giá: Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đã được nhân dân tin tưởng, đồng tình ủng hộ rất cao và đã trở thành một phong trào mạnh mẽ; Kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và kiểm soát quyền lực ngày càng được tăng cường, xử lý đồng bộ cả kỷ luật Đảng, kỷ luật hành chính Nhà nước, xử lý hình sự. Ông có ghi nhận, đánh giá thế nào về những kết quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực mà Đảng ta phát động?

Như chúng ta đều biết nhận định của Hội nghị Trung ương 2 (khóa XIV) là có cơ sở thực tiễn rất rõ ràng đã phản ánh đúng “độ chín” trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn vừa qua.

Trước hết, Đảng đã khẳng định đây không còn là những chiến dịch mang tính thời điểm, mà đã trở thành một quá trình thường xuyên, liên tục và có hệ thống trong Đảng, như Tổng bí thư Tô Lâm đã từng phát biểu “Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực phải gắn với hoàn thiện thể chế, không để ‘không làm cũng sai, làm cũng sai’”. Với một điểm rất đáng chú ý đó là: Chống tham nhũng nhưng không làm triệt tiêu động lực đổi mới, sáng tạo; phải song hành với bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm.

Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, nội dung này đã đi vào chiều sâu, có trọng tâm, trọng điểm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Nhiều vụ án lớn, phức tạp, kéo dài nhiều năm đã được đưa ra ánh sáng, xử lý nghiêm; Các vụ án lớn đã được truyền thông phản ánh đậm nét thường liên quan đến tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, ma túy xuyên quốc gia và các hành vi an ninh quốc gia…

Một điểm đáng chú ý là tính đồng bộ trong xử lý, như Hội nghị đã nêu, việc xử lý không chỉ dừng lại ở kỷ luật Đảng mà còn gắn với kỷ luật hành chính và trách nhiệm hình sự. Điều này thể hiện rõ nguyên tắc: Vi phạm đến đâu xử lý đến đó, không “hạ cánh an toàn”. Sự kết nối giữa các cơ quan như Ủy ban Kiểm tra Trung ương, cơ quan điều tra, truy tố, xét xử ngày càng chặt chẽ, tạo nên một chuỗi xử lý khép kín và hiệu quả.

Về mặt thể chế, công tác kiểm soát quyền lực đã có bước tiến rõ. Nhiều quy định về trách nhiệm nêu gương, về kiểm soát tài sản, thu nhập, về phòng ngừa xung đột lợi ích được hoàn thiện. Đây là chuyển biến rất quan trọng, bởi chống tham nhũng không chỉ là “đánh án”, mà cốt lõi là không để tham nhũng có cơ hội xảy ra. Qua đó niềm tin của nhân dân được củng cố. Việc xử lý nghiêm cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao, đã tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ trong xã hội. Người dân không chỉ đồng tình mà còn chủ động tham gia giám sát, phản ánh tiêu cực. Đây chính là nền tảng xã hội vững chắc để cuộc đấu tranh này tiếp tục đi xa hơn.

Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận rằng: Tham nhũng, tiêu cực vẫn còn diễn biến phức tạp, rất tinh vi, có xu hướng “ẩn mình” trong cơ chế, chính sách, hoặc lợi dụng các lĩnh vực mới. Vì vậy, theo quan điểm của tôi trong giai đoạn tới cần đẩy mạnh hơn nữa ba trụ cột đó là: Phòng ngừa là chính (hoàn thiện thể chế, minh bạch hóa, chuyển đổi số); Phát hiện sớm, xử lý kịp thời; Kiểm soát quyền lực thực chất, không hình thức.

Có thể nói, cuộc đấu tranh này đã đạt được kết quả rất quan trọng, toàn diện và có tính bước ngoặt, nhưng để bền vững thì phải tiếp tục chuyển mạnh từ “xử lý” sang “phòng ngừa”, từ “chiến dịch” sang “thiết chế”.

Các nghị quyết của Trung ương đã “đúng và trúng” vấn đề

Thưa ông, cuối nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, Bộ Chính trị đã ban hành nhiều Nghị quyết nền tảng, quan trọng như Nghị quyết 57 về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, Nghị quyết 66 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân... Ông có ghi nhận gì về việc triển khai các Nghị quyết này ở Trung ương và địa phương; qua việc triển khai thực hiện các nghị quyết đã cho kết quả ra sao?

Sau khi Bộ Chính trị ban hành các nghị quyết như Nghị quyết 57, 66, 68, các bộ, ngành đã khẩn trương xây dựng chương trình hành động, kế hoạch thực hiện; nhiều địa phương cũng chủ động cụ thể hóa bằng đề án, nghị quyết chuyên đề. Điều được đánh giá và ghi nhận là cách tiếp cận đã có sự thay đổi: Không chỉ dừng ở quán triệt, mà bắt đầu gắn với mục tiêu, chỉ tiêu và phân công trách nhiệm cụ thể. Tuy nhiên, mức độ triển khai vẫn có độ vênh nhất định giữa các lĩnh vực cụ thể là:

Với Nghị quyết 57 (khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số), đã có chuyển động khá rõ: Nhiều địa phương thúc đẩy chính quyền số, kinh tế số; doanh nghiệp bắt đầu quan tâm hơn đến đổi mới sáng tạo. Một số thủ tục hành chính được số hóa, dữ liệu từng bước được kết nối. Nhưng vấn đề lớn vẫn là thiếu hạ tầng dữ liệu đồng bộ, thiếu cơ chế khuyến khích đủ mạnh, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và đặc biệt là tâm lý “ngại đổi mới” trong một bộ phận bộ máy.

Với Nghị quyết 66 (xây dựng và thi hành pháp luật), có tiến bộ trong việc rà soát, sửa đổi các quy định chồng chéo, bất cập. Tinh thần “lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm” đã được nhấn mạnh hơn. Tuy nhiên, khâu tổ chức thi hành pháp luật vẫn là điểm yếu: tình trạng “luật tốt nhưng thực thi chưa tốt” chưa được khắc phục căn bản; kỷ luật, kỷ cương pháp luật ở một số nơi chưa nghiêm.

Với Nghị quyết 68 (phát triển kinh tế tư nhân), tín hiệu tích cực là nhận thức đã thay đổi rõ rệt: Khu vực kinh tế tư nhân được nhìn nhận là động lực quan trọng của nền kinh tế. Một số rào cản về điều kiện kinh doanh được tháo gỡ, môi trường đầu tư có cải thiện. Tuy nhiên so với thực tế, doanh nghiệp vẫn phản ánh khó tiếp cận đất đai, vốn, và còn chi phí không chính thức; nghĩa là dư địa cải cách vẫn rất lớn. Về kết quả bước đầu, tôi có thể khái quát ba điểm lới như sau:

Một là tạo được khung chính sách và định hướng lớn, làm nền cho các cải cách sâu hơn trong giai đoạn tới.

Hai là bắt đầu xuất hiện những mô hình, cách làm mới ở địa phương, đặc biệt trong chuyển đổi số và hỗ trợ doanh nghiệp.

Ba là tác động đến nhận thức và hành động của hệ thống chính trị, chuyển từ tư duy quản lý sang phục vụ, kiến tạo.

Có thể nhận định rằng, kết quả hiện nay mới ở giai đoạn khởi động và tạo nền, chưa tạo ra đột phá rõ nét trên diện rộng. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở khâu tổ chức thực hiện: Còn tâm lý e dè, sợ sai; phối hợp chưa nhịp nhàng; và chưa có cơ chế đủ mạnh để bảo vệ người dám nghĩ, dám làm.

Từ thực tiễn đó, theo quan điểm của tôi, giai đoạn tới cần tập trung vào ba nội dung sau: Rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm trong triển khai từng nghị quyết; Gắn kết quả thực hiện với đánh giá cán bộ, tránh tình trạng “triển khai hình thức”; Tạo cơ chế thử nghiệm, bảo vệ đổi mới sáng tạo, nhất là ở cấp địa phương.

Các nghị quyết này đã “đúng và trúng”, vấn đề còn lại là tổ chức thực hiện có đủ quyết liệt và nhất quán hay không. Nếu làm tốt khâu này, đây sẽ là những đòn bẩy rất mạnh cho phát triển trong giai đoạn tới.

Đại biểu Tráng A Dương phát biểu thảo luận tại phiên họp toàn thể của Quốc hội tại hội trường. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

Đại biểu Tráng A Dương phát biểu thảo luận tại phiên họp toàn thể của Quốc hội tại hội trường. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

Cần có nghị quyết “mở đường - trao quyền - kiểm soát rủi ro”

Từ thực tế triển khai những nghị quyết này, là đại biểu Quốc hội, ông có đề xuất gì để Quốc hội ban hành Nghị quyết đặc thù nhằm tạo hành lang pháp lý đảm bảo những quan điểm, chủ trương mới của Đảng nhanh chóng đi vào cuộc sống. Đây cũng là cách tiếp cận thực hiện theo yêu cầu của Nghị quyết 66 của Bộ Chính trị?

Từ thực tiễn triển khai các Nghị quyết lớn như Nghị quyết 57, 66, 68…, chúng ta có thể thấy một “điểm nghẽn” không nằm ở chủ trương mà nằm ở tốc độ thể chế hóa và khả năng tổ chức thực thi.

Quốc hội muốn ban hành một Nghị quyết đặc thù để hiện thực hóa nhanh các quan điểm mới của Đảng (đúng tinh thần Nghị quyết 66), theo tôi rất cần đi theo hướng là một nghị quyết “mở đường - trao quyền - kiểm soát rủi ro”, thay vì chỉ quy định nguyên tắc chung. Dưới góc độ đại biểu Quốc hội khóa XV, XVI, tôi đề xuất một số nội dung sau:

Thứ nhất, thiết kế cơ chế “luật khung - nghị quyết thí điểm - tổng kết nhân rộng”. Cho phép Chính phủ và một số địa phương, bộ ngành được thí điểm chính sách vượt luật hiện hành trong các lĩnh vực mới như chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, kinh tế tư nhân; thêm vào đó là Nghị quyết của Quốc hội phải cho phép “khác luật” có điều kiện, thay vì chờ sửa luật tổng thể; Có thời hạn rõ (3 - 5 năm), có tiêu chí đánh giá, có cơ chế “thoát” nếu rủi ro.

Thứ hai, trao quyền thực chất đi kèm trách nhiệm giải trình, bởi lẽ hiện nay vướng nhiều ở tâm lý “sợ sai”.

Thứ ba, đổi mới quy trình xây dựng và áp dụng pháp luật theo hướng linh hoạt.

Với tinh thần của Nghị quyết 66 theo quan điểm của cá nhan tôi là không để pháp luật đi sau thực tiễn. Do đó cần cho phép ban hành cơ chế thử nghiệm chính sách trong các lĩnh vực mới; rút gọn quy trình xây dựng văn bản dưới luật đối với nội dung đã được Quốc hội “mở đường”; tăng quyền chủ động cho Chính phủ trong việc điều chỉnh kỹ thuật, nhưng phải báo cáo Quốc hội định kỳ.

Thứ tư, gắn thể chế với nguồn lực thực thi; một số Nghị quyết hiện nay “đúng nhưng khó làm” vì thiếu nguồn lực. Chính vì vậy rất cần cơ chế tài chính đặc thù (quỹ đổi mới sáng tạo, quỹ chuyển đổi số…); cho phép linh hoạt trong phân bổ ngân sách, nhân lực, hợp tác công – tư; thí điểm cơ chế thu hút nhân tài, chuyên gia, kể cả khu vực tư.

Thứ năm, thiết lập cơ chế giám sát riêng cho nghị quyết đặc thù, đây là điểm rất quan trọng để tránh buông lỏng cụ thể như Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần có chuyên đề giám sát riêng hằng năm; yêu cầu báo cáo định lượng (hiệu quả kinh tế, xã hội, chi phí - lợi ích); công khai kết quả để tạo áp lực cải cách.

Thứ sáu, lựa chọn đúng “điểm đột phá” để triển khai làm trước, không nên dàn trải, mà tập trung vào những lĩnh vực có tính lan tỏa cao như: Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế tư nhân, chuyển đổi số và dữ liệu; một số đô thị, vùng động lực.

Nếu chỉ dừng ở việc “cho phép” thì chưa đủ, mà Nghị quyết của Quốc hội cần đóng vai trò như một cơ chế thể chế hóa nhanh, với 3 đặc trưng đó là: Cho phép làm khác; trao quyền rõ; kiểm soát bằng hậu kiểm và minh bạch.

Đây chính là cách tiếp cận sát với tinh thần của Nghị quyết 66 đưa pháp luật từ vị thế “đi theo” sang “dẫn dắt và mở đường cho phát triển”.

Nguyễn Viết Tôn/Báo Tin tức và Dân tộc (Thực hiện)

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/thoi-su/dau-tranh-phong-chong-tham-nhung-tieu-cuc-phai-gan-voi-hoan-thien-the-che-20260418103214954.htm