Đầu tư công chuyển động: Lấy hiệu quả và sự hài lòng của người dân làm thước đo
Trước đòi hỏi tăng trưởng nhanh hơn nữa, đầu tư công phải chuyển mình mạnh mẽ, từ tư duy chấp nhận chậm trễ sang chủ động tháo gỡ điểm nghẽn, thúc đẩy tiến độ và hiệu quả dự án.

Hiệu quả dự án cần được đo bằng khả năng chuyển hóa nhanh chóng thành tiện ích
Nguy cơ từ tư duy “chậm là bình thường”
Theo TS. Nguyễn Minh Phong - chuyên gia kinh tế, tình trạng chậm tiến độ các dự án đầu tư công trong giai đoạn 2021-2025 diễn ra phổ biến trên phạm vi cả nước, kể cả tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại không chỉ nằm ở con số hay tiến độ bị kéo dài, mà ở nguy cơ hình thành một tư duy lệch chuẩn: Coi sự chậm trễ như một “trạng thái bình thường mới”.
Nếu xu hướng này không được chấn chỉnh kịp thời, hệ lụy sẽ lan rộng và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả quản lý nhà nước. Trước hết, kỷ luật công vụ và trách nhiệm thực thi sẽ bị suy giảm. Khi việc chậm tiến độ không còn bị coi là bất thường, các chủ thể liên quan dễ rơi vào tâm lý biện minh, tìm kiếm lý do thay vì tập trung tháo gỡ khó khăn. Điều này làm xói mòn động lực hoàn thành dự án đúng kế hoạch.
Đáng chú ý, TS. Nguyễn Minh Phong cảnh báo nguy cơ “bình thường hóa sai phạm”. Từ chậm tiến độ, nhiều dự án dẫn tới điều chỉnh tổng mức đầu tư, tăng vốn và tiếp tục được hợp thức hóa. Điều này không chỉ làm suy giảm hiệu quả đầu tư mà còn tiềm ẩn nguy cơ thất thoát, lãng phí nguồn lực.
Về nguyên nhân, bên cạnh các yếu tố khách quan như biến động kinh tế, thiên tai hay bất cập pháp lý, nhiều yếu tố chủ quan được chỉ ra. Đó là việc chuẩn bị dự án còn vội vàng, thiếu dự báo rủi ro, thiếu kịch bản ứng phó. Những khó khăn như giải phóng mặt bằng, vốn có thể lường trước, lại thường xuyên được viện dẫn như lý do khách quan.
Không ít trường hợp còn xuất hiện biểu hiện tiêu cực trong thực thi, như lợi dụng kẽ hở pháp luật, gây ách tắc thủ tục hoặc tạo áp lực không chính đáng, khiến tiến độ bị kéo dài. Đáng nói hơn, các yếu tố chủ quan này lại thường được “ngụy trang” dưới vỏ bọc khách quan, khiến việc xử lý trách nhiệm trở nên khó khăn.
Thực tế cũng cho thấy, tình trạng thiếu phối hợp liên ngành là một “điểm nghẽn mềm” nhưng tác động lớn. Các đơn vị vận hành độc lập, thiếu liên kết dữ liệu và phối hợp thực chất, dẫn tới tình trạng đùn đẩy trách nhiệm. Kết quả cuối cùng vẫn là chậm tiến độ, nhưng không xác định rõ được trách nhiệm cụ thể.
Một ví dụ điển hình là việc mở rộng hạ tầng vượt quá nhu cầu thực tế, dẫn đến tăng chi phí đầu tư và phát sinh khó khăn trong giải phóng mặt bằng. Những quyết định mang tính chủ quan như vậy không chỉ làm kéo dài tiến độ mà còn tạo thêm các điểm nghẽn mới trong triển khai dự án.
Theo TS. Nguyễn Minh Phong, để khắc phục tình trạng này, cần siết chặt kỷ luật thực thi, làm rõ trách nhiệm cá nhân và nâng cao chất lượng chuẩn bị dự án. Quan trọng hơn, phải thay đổi tư duy quản lý: Không chấp nhận sự trì trệ như một điều tất yếu, mà coi tiến độ là tiêu chí bắt buộc trong đánh giá hiệu quả đầu tư công.
Thước đo hiệu quả nằm ở sự hài lòng của người dân
Ở góc độ quản lý, nhiều chuyên gia cho rằng cơ chế chính sách của Việt Nam về cơ bản là thống nhất, song hiệu quả triển khai lại không đồng đều giữa các địa phương, lĩnh vực.
Thực tế tại một số dự án giao thông cho thấy, khi có sự vào cuộc quyết liệt của lãnh đạo, tiến độ đã có chuyển biến tích cực. Các đợt kiểm tra trực tiếp, chỉ đạo sát sao không chỉ tạo áp lực mà còn là động lực thúc đẩy các đơn vị thi công tăng tốc.
Ghi nhận tại khu vực Cầu Giấy (Hà Nội), nơi triển khai dự án đường vành đai 2,5, người dân bày tỏ kỳ vọng lớn vào việc sớm hoàn thành dự án. Với họ, một công trình hạ tầng không chỉ là con đường, mà còn là cơ hội ổn định cuộc sống, cải thiện môi trường sống và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.
Ông Đỗ Văn Giáp, Chỉ huy trưởng Công ty Cổ phần Sông Hồng - đơn vị thi công dự án cho biết, ngay sau chỉ đạo của thành phố, công trường đã tổ chức thi công liên tục nhiều mũi, duy trì hoạt động gần như 24/7. Việc huy động đầy đủ vật tư, thiết bị và nhân lực giúp đẩy nhanh tiến độ, đồng thời vẫn bảo đảm chất lượng công trình.
Trong khi đó, Ban Quản lý dự án phường Cầu Giấy cho biết công tác giải phóng mặt bằng - một trong những “nút thắt” lớn nhất, đang được tháo gỡ với tiến độ tích cực. Hàng chục nghìn m2 đất đã được bàn giao, tạo điều kiện cho các nhà thầu triển khai thi công đồng bộ.
Tuy nhiên, theo TS. Nguyễn Minh Phong, tiến độ chỉ là một phần của câu chuyện. Trong hệ tiêu chí “sáu cái rõ” mà Chính phủ nhấn mạnh, “rõ kết quả” mới là yếu tố cốt lõi. Mục tiêu cao nhất của quản lý nhà nước không chỉ là hoàn thành dự án, mà là mang lại giá trị thực sự cho người dân và doanh nghiệp.
Ở lĩnh vực giao thông - hạ tầng, hiệu quả dự án cần được đo bằng khả năng chuyển hóa nhanh chóng thành tiện ích. Một tuyến đường hoàn thành phải giúp giảm ùn tắc, rút ngắn thời gian di chuyển và nâng cao chất lượng sống.
Bên cạnh đó, chi phí vận hành và bảo trì cũng là thước đo quan trọng. Những công trình có chi phí duy tu cao bất thường sẽ tạo áp lực lớn cho ngân sách, làm giảm hiệu quả đầu tư. Vì vậy, chất lượng kỹ thuật và độ bền công trình cần được đặt lên hàng đầu ngay từ khâu thiết kế, thi công.
Không chỉ dừng lại ở đó, một dự án hạ tầng thành công còn phải tạo ra hiệu ứng lan tỏa. Từ thúc đẩy thị trường bất động sản, phát triển sản xuất - kinh doanh đến cải thiện an sinh xã hội và môi trường sống. Giá trị của dự án vì thế không nằm ở quy mô đầu tư, mà ở mức độ tác động dài hạn.
Cuối cùng, theo TS. Nguyễn Minh Phong, “nụ cười của người dân” chính là thước đo chân thực nhất. Khi người dân thực sự hài lòng, doanh nghiệp được hưởng lợi và xã hội phát triển bền vững. Đó mới là minh chứng rõ ràng cho hiệu quả của quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư hạ tầng và giao thông.











