Đẩy mạnh huy động nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng
Huy động nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số trong giai đoạn 2026 - 2030 đang trở thành bài toán lớn đối với Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế toàn cầu và địa chính trị quốc tế còn nhiều biến động. Trong cấu trúc vốn hiện nay, bên cạnh đầu tư công và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tín dụng ngân hàng vẫn là kênh dẫn vốn chủ lực của nền kinh tế. Xung quanh vấn đề này, phóng viên đã trao đổi với TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn, Giảng viên Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright.

Để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số, theo ông đâu là kênh dẫn vốn chủ lực của nền kinh tế hiện nay?
Huy động vốn cho mục tiêu tăng trưởng này trong năm 2026 và cả giai đoạn 2026 - 2030 là thách thức rất lớn. Năm 2025, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt khoảng 4,15 triệu tỷ đồng, tăng 12,1%, chỉ nhỉnh hơn mức tăng GDP danh nghĩa khoảng 11,6%. Tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội đạt khoảng 32,3% GDP, trong đó đầu tư công chiếm 8,65% GDP, FDI khoảng 5,3% GDP và đầu tư tư nhân trong nước đạt 17,41% GDP.
Cấu trúc này cho thấy tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn phụ thuộc chủ yếu vào 3 trụ cột: ngân sách nhà nước, tín dụng ngân hàng và vốn tự có của khu vực tư nhân. Trong khi đó, vai trò của thị trường vốn vẫn còn khá hạn chế.
Hiện nay, tín dụng ngân hàng vẫn là kênh dẫn vốn quan trọng nhất. Năm 2025, tăng trưởng tín dụng đạt gần 19,1%, đưa tổng dư nợ toàn nền kinh tế lên khoảng 145% GDP - mức khá cao so với nhiều quốc gia đang phát triển. Lượng tín dụng ròng bổ sung cho nền kinh tế đạt gần 3 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 23,2% GDP. Tuy nhiên, dòng vốn này không hoàn toàn chảy vào hoạt động đầu tư sản xuất mà còn phục vụ tiêu dùng và các mục đích khác.
Bước sang năm 2026, áp lực huy động vốn sẽ lớn hơn đáng kể. Với mục tiêu tăng trưởng GDP thực khoảng 10% và lạm phát dự kiến 4,5%, GDP danh nghĩa có thể tăng gần 15%. Điều này đồng nghĩa với việc nhu cầu vốn của nền kinh tế sẽ ở mức rất lớn. Nếu tiếp tục phụ thuộc quá nhiều vào tín dụng ngân hàng, sẽ tiềm ẩn rủi ro đối với ổn định vĩ mô và an toàn hệ thống tài chính. Vì vậy, để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số, Việt Nam cần thực hiện các cải cách mang tính nền tảng và thay đổi căn bản mô hình tăng trưởng.
Vậy cần làm gì để bảo đảm cân đối nguồn lực và duy trì tăng trưởng bền vững, thưa ông?
Một trong những vấn đề lớn hiện nay là hiệu quả sử dụng vốn của Việt Nam chưa cao, thể hiện qua hệ số ICOR vẫn dao động ở mức 5 - 6. Do đó, yêu cầu quan trọng nhất là phải nâng cao năng suất, chất lượng đầu tư và hiệu quả phân bổ nguồn lực.
Trong bối cảnh đầu tư công được đẩy mạnh, nếu các dự án thiếu tính lan tỏa, triển khai dàn trải hoặc lựa chọn không hiệu quả, không những gây áp lực lên ổn định kinh tế vĩ mô mà còn tạo ra hiệu ứng “chen lấn”, đẩy mặt bằng lãi suất tăng lên, từ đó làm suy giảm đầu tư tư nhân và tiêu dùng xã hội.
Chính vì vậy, cần thúc đẩy khu vực tư nhân trở thành động lực tăng trưởng quan trọng hơn, hướng tới đóng góp khoảng 60% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Đồng thời, Việt Nam cần phát triển mạnh thị trường tài chính xanh, tín dụng xanh nhằm thu hút dòng vốn FDI thế hệ mới.
Bên cạnh đó, cần tiếp tục cải cách thể chế kinh tế, đẩy mạnh phân cấp, trao quyền cho các cực tăng trưởng như TP. Hồ Chí Minh để tạo không gian phát triển mới. Về dài hạn, mô hình tăng trưởng phải chuyển dần từ phụ thuộc vào vốn giá rẻ và lao động giản đơn sang dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng suất nội sinh.
Định hướng này cũng phù hợp với tinh thần Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân trở thành “một động lực quan trọng nhất” của nền kinh tế. Tuy nhiên, thách thức hiện nay là đầu tư tư nhân mới chỉ đạt khoảng 17,4% GDP, trong khi vốn tự có của doanh nghiệp chưa tới 5% GDP; phần còn lại vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng và thị trường vốn.

Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) sẽ đóng vai trò như thế nào trong việc hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng 2 con số?
Trong năm 2026, NHNN định hướng tăng trưởng tín dụng khoảng 15%, tương đương tốc độ tăng GDP danh nghĩa. Đây là mức phù hợp để vừa hỗ trợ tăng trưởng vừa bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô.
Tuy nhiên, về dài hạn, Việt Nam cần tái cấu trúc mạnh mẽ thị trường vốn theo hướng tăng phát hành chứng khoán ra công chúng, mở rộng khả năng huy động vốn cho doanh nghiệp sản xuất ngoài lĩnh vực ngân hàng và bất động sản, đồng thời đẩy nhanh quá trình nâng hạng thị trường chứng khoán để thu hút dòng vốn quốc tế.
Song song với đó, cần thúc đẩy phát triển IFC cùng các mô hình tài chính hiện đại như fintech, quỹ đầu tư hạ tầng, quỹ đầu tư tư nhân, quỹ đầu tư mạo hiểm, chứng khoán hóa tài sản, trái phiếu xanh và trái phiếu hạ tầng.
Theo tôi, vai trò cốt lõi của IFC phải gắn với nhu cầu vốn dài hạn của nền kinh tế, giúp doanh nghiệp Việt Nam mở rộng khả năng tiếp cận nguồn vốn quốc tế, đồng thời phát triển các sản phẩm tài chính mới. Nếu không giải quyết được bài toán huy động vốn và đổi mới tài chính cho chính nền kinh tế Việt Nam thì rất khó để IFC trở thành trung tâm tài chính có sức cạnh tranh ở quy mô khu vực hay quốc tế.











