ĐBQH: Tạo điều kiện để hàng triệu 'chim sẻ của nền kinh tế' phát triển

Đại biểu Quốc hội đề xuất giải pháp để các chính sách hỗ trợ đến được với doanh nghiệp nhỏ nhất, tạo điều kiện cho 'hàng triệu chim sẻ của nền kinh tế phát triển'.

Thảo luận về dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa chiều ngày 29/10, các đại biểu Quốc hội cho rằng, điều quan trọng không chỉ là mở rộng chính sách hỗ trợ mà phải bảo đảm doanh nghiệp thực sự tiếp cận được nguồn lực, nhất là những doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp tại địa bàn khó khăn.

Chỉ 9% doanh nghiệp được khảo sát tiếp cận chính sách hỗ trợ

Đại biểu Phan Thị Thuỳ Linh - Đoàn Thanh Hoá. Ảnh: Media Quốc hội

Đại biểu Phan Thị Thuỳ Linh - Đoàn Thanh Hoá. Ảnh: Media Quốc hội

Đại biểu Phan Thị Thùy Linh (Đoàn Thanh Hóa) cho biết, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm hơn 98% tổng số doanh nghiệp, cùng hàng triệu hộ kinh doanh, đóng góp quan trọng vào tạo việc làm, phát triển kinh tế và ổn định xã hội.

“Bên cạnh việc trải thảm đỏ đón đại bàng, chúng ta cũng cần tạo điều kiện để hàng triệu chim sẻ của nền kinh tế có cơ hội được lớn mạnh và phát triển,” đại biểu nêu quan điểm.

Dẫn báo cáo tổng kết của Bộ Tài chính, đại biểu cho biết, trong khảo sát gần 500 doanh nghiệp nhỏ và vừa, chỉ khoảng 9% phản hồi đã tiếp cận, thụ hưởng được chính sách hỗ trợ. Theo bà, con số này cho thấy cần đổi mới cách thức tổ chức thực hiện, bởi một chính sách dù được thiết kế tốt cũng khó phát huy hiệu quả nếu thiếu cơ chế đưa chính sách đến đúng đối tượng.

“Chính sách tốt phải có kênh dẫn để đến được với doanh nghiệp nhỏ nhất”, đại biểu nhấn mạnh.

Từ thực tế trên, đại biểu đề nghị hoàn thiện dự thảo Luật theo hướng làm rõ cơ chế đặt hàng các tổ chức đại diện doanh nghiệp có đủ năng lực, trong đó có tổ chức đại diện doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, tham gia triển khai chính sách hỗ trợ.

Việc lựa chọn các tổ chức phải bảo đảm công khai, minh bạch, đúng quy định và thanh toán gắn với kết quả nghiệm thu. Qua đó tạo thêm kênh tiếp cận chính sách cho những doanh nghiệp có quy mô nhỏ, hạn chế về nguồn lực và khả năng tiếp cận thông tin.

“Nếu chúng ta thiếu đi kênh dẫn khả thi thì rất có thể những doanh nghiệp cần hỗ trợ nhất đôi khi lại là những doanh nghiệp khó tiếp cận chính sách nhất,” đại biểu nói.

Một vấn đề khác được đại biểu Phan Thị Thùy Linh đề cập là tính liên tục của chính sách hỗ trợ. Theo bà, để đáp ứng yêu cầu của khách hàng lớn, doanh nghiệp có thể cần từ 1 - 2 năm nâng cấp năng lực sản xuất.

Bà đề nghị bổ sung cơ chế thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ kéo dài nhiều năm, xác định rõ thời gian, kinh phí, các mốc kết quả và đầu mối chịu trách nhiệm ngay từ khi phê duyệt. Việc nghiệm thu phải gắn với kết quả thực tế, làm căn cứ điều chỉnh hoặc dừng hỗ trợ nếu không hiệu quả.

Cần mở rộng hình thức cho vay

Quan tâm đến cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp, đại biểu Trần Anh Tuấn (Đoàn TP HCM) đề nghị làm rõ trách nhiệm của các chủ đầu tư khu công nghiệp, cụm công nghiệp được ngân sách hỗ trợ đầu tư hạ tầng để dành diện tích cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thuê, thuê lại.

Theo đại biểu, dự thảo đã quy định trách nhiệm dành một phần diện tích đất cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, song chưa làm rõ nghĩa vụ này có tiếp tục được thực hiện khi dự án chuyển nhượng hoặc thay đổi mục đích khai thác hay không. Ông đề nghị bổ sung nguyên tắc về thời hạn cam kết sử dụng hạ tầng, nghĩa vụ kế thừa khi chuyển nhượng dự án và trách nhiệm hoàn trả khoản hỗ trợ nếu chủ đầu tư vi phạm cam kết.

Đề cập đến những rào cản trong tiếp cận nguồn lực, đại biểu Lê Hoàng Anh (Đoàn Gia Lai) cho rằng chính sách hỗ trợ cần hướng mạnh hơn đến khu vực sản xuất, chế biến, chế tạo và những địa phương còn khó khăn về ngân sách.

Đại biểu Lê Hoàng Anh - Đoàn Gia Lai. Ảnh: Media Quốc hội

Đại biểu Lê Hoàng Anh - Đoàn Gia Lai. Ảnh: Media Quốc hội

Theo số liệu đại biểu dẫn chứng, trong hơn một triệu doanh nghiệp của cả nước, gần 71% hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, trong khi doanh nghiệp nông, lâm, thủy sản chỉ chiếm gần 1%.

Lấy ví dụ ngành cà phê, ông cho biết năm 2025, cả nước xuất khẩu gần 9 tỷ USD cà phê nhưng tỷ lệ chế biến sâu mới đạt khoảng 15%. Giá cà phê nhân khoảng 5.600 USD/tấn, trong khi cà phê chế biến đạt khoảng 9.700 USD/tấn. Chênh lệch giá trị cho thấy dư địa gia tăng giá trị sản phẩm thông qua chế biến còn lớn.

"Riêng Gia Lai, kim ngạch xuất khẩu năm 2025 đạt khoảng 3,44 tỷ USD, trong đó cà phê đóng góp khoảng 1,5 tỷ USD," ông Hoàng Anh thông tin.

Theo đại biểu, vùng nguyên liệu và thị trường đã có nhưng doanh nghiệp chế biến quy mô nhỏ vẫn thiếu đất sản xuất gắn với vùng nguyên liệu, kho lạnh, vốn dài hạn đầu tư máy móc cũng như nguồn lực đáp ứng các yêu cầu về chứng nhận, truy xuất nguồn gốc. Trong khi đó, cơ chế cho vay dựa nhiều vào tài sản thế chấp đang gây bất lợi cho doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ đầu tư dài, sử dụng máy móc, thiết bị chuyên dùng.

Để khắc phục, ông đề nghị bổ sung vào dự thảo luật quy định bố trí quỹ đất, khu, cụm chế biến nông, lâm, thủy sản tập trung gắn với vùng nguyên liệu; phát triển kho lạnh và hệ thống logistics dùng chung. Đồng thời, cần mở rộng hình thức cho vay dựa trên hợp đồng liên kết tiêu thụ, khoản phải thu, hàng tồn kho, chứng từ kho hàng và ưu tiên bảo lãnh khoản vay đầu tư máy móc chế biến sâu.

Đặc biệt, đại biểu đề xuất kết nối dữ liệu thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội với tổ chức tín dụng khi được doanh nghiệp đồng ý, qua đó tạo điều kiện cho ngân hàng thẩm định khả năng trả nợ dựa trên dòng tiền. Theo ông, việc kết nối dữ liệu có thể giúp doanh nghiệp chứng minh năng lực tài chính, giảm sự phụ thuộc vào tài sản thế chấp khi tiếp cận tín dụng.

Đinh Nhung

Nguồn Mekong Asean: https://mekongasean.vn/dbqh-tao-dieu-kien-de-hang-trieu-chim-se-cua-nen-kinh-te-phat-trien-61239.html