Để DNNN giữ nhịp cho nền kinh tế bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Trong gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, doanh nghiệp nhà nước (DNNN) luôn giữ vai trò chủ đạo, là nòng cốt dẫn dắt nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Đặc biệt trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, với mục tiêu đến năm 2030, là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, DNNN cần thể hiện mạnh mẽ vị trí, vai trò nòng cốt, dẫn dắt, mở đường trong nền kinh tế.
Tạo đột phá vào năng lực tự chủ quốc gia
Ngay từ những năm đầu của công cuộc đổi mới, Đảng và nhà nước đã đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng, củng cố và phát triển khu vực DNNN. Trải qua nhiều giai đoạn, hệ thống cơ chế, chính sách đối với DNNN liên tục được điều chỉnh, hoàn thiện, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tiến trình mở cửa, hội nhập quốc tế cũng như sự đổi mới trong tư duy, nhận thức về vai trò của kinh tế nhà nước. Từ mô hình vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, DNNN từng bước chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường, nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm và năng lực cạnh tranh.
Các định hướng chiến lược trong giai đoạn mới tiếp tục khẳng định rõ vai trò này. Đầu năm 2021, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thông qua Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội (2021-2025) và Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội (2021- 2030), trong đó nêu bật mục tiêu đưa Việt Nam trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình cao đến năm 2030 và có thu nhập cao đến năm 2045. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, yêu cầu đặt ra là tiếp tục sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN, tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu, địa bàn trọng yếu về quốc phòng - an ninh và những ngành mà các thành phần kinh tế khác không đầu tư.
Trong bối cảnh biến động kinh tế, địa chính trị trên thế giới, xu hướng phát triển và thay đổi mạnh mẽ về công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng nhấn mạnh: “Phát triển kinh tế nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, định hướng chiến lược và dẫn dắt nền kinh tế”. Đặc biệt, gần đây là Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước được xem là một dấu mốc quan trọng trong việc tái định vị vai trò của khu vực kinh tế này cũng như của DNNN trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Những kỳ vọng lớn lao này hình thành từ chính thực tiễn phát triển trong nhiều thập niên qua. Các chuyên gia đánh giá, cùng với quá trình đổi mới, DNNN đã có những chuyển biến rõ nét về quản trị, hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh. Cơ chế đại diện chủ sở hữu nhà nước từng bước được hoàn thiện; chức năng quản lý nhà nước, chức năng chủ sở hữu và chức năng sản xuất kinh doanh được phân định rõ ràng; nguyên tắc bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong tiếp cận nguồn lực ngày càng được bảo đảm. Nhờ đó, DNNN tiếp tục giữ vai trò đầu tàu, tạo động lực lan tỏa cho các khu vực kinh tế khác.
Đáng chú ý, DNNN hiện diện và giữ vai trò chủ chốt trong nhiều lĩnh vực nền tảng như năng lượng, lương thực, viễn thông, xăng dầu, tài chính, hạ tầng… Đây đều là những lĩnh vực đòi hỏi nguồn lực lớn, thời gian thu hồi vốn dài, tiềm ẩn nhiều rủi ro, gắn với lợi ích chiến lược, an ninh quốc gia. Không chỉ vậy, DNNN còn nắm giữ nguồn lực quan trọng về vốn, tài sản, công nghệ và nhân lực chất lượng cao; đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước. Chính ở những lĩnh vực này, vai trò chủ đạo của DNNN được thể hiện rõ nét nhất trong việc giải quyết những vấn đề căn cơ, dài hạn của nền kinh tế.
Tuy nhiên, dù đạt nhiều kết quả tích cực, khu vực DNNN vẫn chưa phát huy đầy đủ vai trò mở đường, dẫn dắt trong việc hình thành và mở rộng các chuỗi sản xuất, cung ứng và chuỗi giá trị trong nước, khu vực và toàn cầu. Việc xây dựng các tập đoàn kinh tế nhà nước quy mô lớn, hoạt động hiệu quả, có năng lực cạnh tranh quốc tế trong những ngành then chốt còn hạn chế. Một số chủ trương, chính sách chậm được triển khai, nhất là trong áp dụng khung quản trị doanh nghiệp theo chuẩn mực quốc tế; việc xác định quy mô, phạm vi hoạt động gắn với năng lực quản trị, cũng như tổ chức bộ máy tinh gọn, phân cấp, phân quyền còn thiếu rõ ràng. Trong khi đó, bối cảnh mới đặt ra yêu cầu không chỉ là khẳng định vai trò, mà quan trọng hơn là đổi mới thực chất, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của DNNN. Đẩy mạnh tái cơ cấu, hoàn thiện thể chế, nâng cao quản trị theo chuẩn mực quốc tế, thúc đẩy chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo sẽ là những giải pháp then chốt để DNNN thực sự trở thành lực lượng dẫn dắt, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Bước chuyển trong tư duy phát triển
Trước những tồn tại và thách thức nêu trên, để DNNN cùng đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình, ông Doãn Thanh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Phát triển DNNN (Bộ Tài chính) khẳng định, việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 79-NQ/TW đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển DNNN từ vai trò “giữ nhịp ổn định” sang trở thành lực lượng dẫn dắt tăng trưởng và hội nhập. Sau hơn 35 năm phát triển kinh tế nhà nước, số lượng DNNN đã giảm rất mạnh. Nếu trước đây Việt Nam có khoảng 12.000 DNNN, thì đến nay con số này chỉ còn 473 doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn và khoảng hơn 800 doanh nghiệp nếu tính cả các đơn vị có vốn nhà nước chi phối. Đây là kết quả của quá trình sắp xếp, tái cơ cấu diễn ra liên tục trong nhiều năm qua. Điểm đáng chú ý là các DNNN còn lại hiện nay phần lớn đều hoạt động trong những lĩnh vực then chốt, thiết yếu, có vai trò quan trọng đối với ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn và an ninh kinh tế quốc gia. Đây không còn là những doanh nghiệp hoạt động dàn trải như trước, mà đều gắn với chức năng, nhiệm vụ chiến lược.
Trên cơ sở định vị lại vai trò của DNNN, Nghị quyết 79-NQ/TW cũng đặt ra những mục tiêu rất cụ thể và tham vọng cho giai đoạn phát triển tới. ông Doãn Thanh Tuấn cho rằng, đây là những mục tiêu ở mức cao, đòi hỏi sự nỗ lực lớn từ phía các doanh nghiệp. Cụ thể, đến năm 2030, phấn đấu có khoảng 50 DNNN quy mô lớn nằm trong nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất khu vực, trong đó có 1-3 doanh nghiệp lọt vào Top 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới. Xa hơn, đến năm 2045, mục tiêu có khoảng 60 doanh nghiệp trong nhóm 500 doanh nghiệp lớn của khu vực và khoảng 5 doanh nghiệp nằm trong nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất toàn cầu.
"Tinh thần nghị quyết mới là mỗi doanh nghiệp phải có một “sứ mệnh” rõ ràng, cụ thể, thay vì những mục tiêu chung chung. Việc sắp xếp DNNN thời gian tới sẽ được thực hiện trên cơ sở các định hướng lớn, trong đó có Nghị quyết 18-NQ/TW về tinh gọn bộ máy và các nghị quyết liên quan đến đổi mới, nâng cao hiệu quả khu vực kinh tế nhà nước. Hai trụ cột này sẽ là nền tảng để tiếp tục cơ cấu lại hệ thống doanh nghiệp”, Phó Cục trưởng Cục Phát triển DNNN phân tích.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, Nghị quyết 79-NQ/TW đã đề ra 14 nhóm giải pháp lớn. Trong đó, giải pháp đặc biệt quan trọng là tập trung đầu tư phát triển một số tập đoàn kinh tế, DNNN mạnh, quy mô lớn, đóng vai trò dẫn dắt các ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược. Nghị quyết cũng xác định rõ một số nhóm ngành, lĩnh vực trọng yếu, bao gồm: Quốc phòng, an ninh; năng lượng; vận tải, logistics; tài chính - ngân hàng; khoa học - công nghệ, điện tử - viễn thông, hạ tầng số; khai thác, chế biến khoáng sản chiến lược; hóa chất; xây dựng, vật liệu xây dựng; nông, lâm nghiệp.
Để có cơ sở lựa chọn đúng lĩnh vực và doanh nghiệp trọng điểm, ông Doãn Thanh Tuấn cho rằng, cần quan tâm một số nội dung như các ngành, lĩnh vực được lựa chọn phải thực sự là “mạch máu” của nền kinh tế, có vai trò bảo đảm an ninh quốc gia, an ninh kinh tế và an sinh xã hội, đồng thời là những lĩnh vực mà khu vực tư nhân không muốn hoặc chưa đủ điều kiện tham gia; đây cũng phải là các lĩnh vực có tính chiến lược đối với phát triển quốc gia, nơi khu vực tư nhân chưa đủ năng lực triển khai, do đó DNNN cần đóng vai trò mở đường, tạo nền tảng ban đầu. Đồng thời là những ngành có khả năng dẫn dắt chuỗi công nghiệp, tạo nền tảng để Việt Nam hình thành các ngành công nghiệp cốt lõi, có năng lực cạnh tranh.
Về phía doanh nghiệp, việc lựa chọn cần dựa trên các tiêu chí như phải hoạt động trong các ngành, lĩnh vực then chốt nêu trên; có quy mô đủ lớn, hoạt động hiệu quả và đặc biệt có năng lực phát triển, làm chủ công nghệ nền tảng; có khả năng định hướng và dẫn dắt hoạt động của toàn ngành; có khả năng làm chủ chuỗi giá trị, đồng thời kết nối, dẫn dắt các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác cùng tham gia. “Vai trò lan tỏa và dẫn dắt của các doanh nghiệp này là yếu tố cốt lõi. DNNN phải đóng vai trò như “vốn mồi”, kích hoạt và dẫn dắt nguồn lực đầu tư của toàn xã hội, từ đó góp phần hoàn thành các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn tới”, ông Doãn Thanh Tuấn khẳng định.

Tách bạch để vận hành hiệu quả
Một trong những thách thức của DNNN là phân định rõ nhiệm vụ chính trị, quốc phòng - an ninh, công ích với mục tiêu kinh doanh thuần túy. Về vấn đề này, ông Doãn Thanh Tuấn nhận định, Nghị quyết 79-NQ/TW đã quy định rõ, nguyên tắc cốt lõi là hoàn thiện cơ chế đánh giá hiệu quả DNNN trên cơ sở nhìn nhận tổng thể, phản ánh đầy đủ nguồn lực và lợi thế mà nhà nước giao cho doanh nghiệp. Theo đó, các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính cần được lượng hóa, minh bạch và tiệm cận thông lệ quốc tế, nhằm tách bạch rõ đâu là hoạt động sản xuất - kinh doanh vì lợi nhuận, đâu là nhiệm vụ chính trị, an ninh - quốc phòng hay công ích. Để thực hiện chủ trương này, mỗi nhiệm vụ được giao phải được định danh rõ ràng, gắn với mục tiêu cụ thể, thời hạn hoàn thành, chỉ tiêu đầu ra và cơ quan có thẩm quyền giao nhiệm vụ. Về cơ chế tài chính, cần chấm dứt tình trạng “bù chéo” giữa các loại nhiệm vụ. Hoạt động kinh doanh phải tự chịu trách nhiệm về hiệu quả, không dùng lợi nhuận để bù đắp cho nhiệm vụ khác. Với nhiệm vụ công ích hoặc chính trị, nhà nước thực hiện cơ chế đặt hàng hoặc đấu thầu, đồng thời tính toán và cấp đủ chi phí, kể cả mức lợi nhuận định mức hợp lý để doanh nghiệp có nguồn lực thực hiện.
Cùng với đó, một yêu cầu quan trọng khác là tách bạch về tổ chức và hạch toán nguồn lực. Các nhiệm vụ công ích có thể giao cho đơn vị chuyên trách hoặc công ty con; trường hợp chưa thể tách riêng, doanh nghiệp phải có tiêu chí phân bổ chi phí minh bạch, chính xác cho từng nhiệm vụ. Cơ chế đánh giá và khen thưởng cần áp dụng riêng biệt: Bộ phận công ích đánh giá theo mức độ hoàn thành nhiệm vụ; bộ phận kinh doanh đánh giá bằng các chỉ tiêu hiệu quả và so sánh với doanh nghiệp cùng ngành. Cuối cùng, DNNN phải công khai danh mục nhiệm vụ, kinh phí được cấp và kết quả kinh doanh hàng năm, coi minh bạch và trách nhiệm giải trình là chìa khóa để nâng cao hiệu quả hoạt động.
Từ đây, một câu hỏi lớn tiếp tục được đặt ra cho các cơ quan quản lý nhà nước có bao nhiêu DNNN là đủ? Ông Doãn Thanh Tuấn khẳng định, đây không phải là bài toán có lời giải bằng một con số cụ thể. Quy mô hệ thống DNNN phải phụ thuộc vào yêu cầu phát triển của từng giai đoạn và sứ mệnh cụ thể của từng doanh nghiệp. Trong thời gian tới, số lượng DNNN có thể vẫn tiếp tục giảm, nhưng không phải theo cách cơ học. Việc giữ lại hay tổ chức lại doanh nghiệp sẽ căn cứ vào khả năng thực hiện sứ mệnh được giao, hiệu quả hoạt động và vai trò đối với nền kinh tế.
Đáng lưu ý, đại diện Cục Phát triển DNNN cho rằng, theo tinh thần các nghị quyết như Nghị quyết 79-NQ/TW, việc cơ cấu lại không đồng nghĩa với chỉ thu hẹp. Nhà nước vẫn có thể đầu tư thành lập mới hoặc tăng cường vai trò của DNNN trong những lĩnh vực mang tính huyết mạch, có tác động lan tỏa lớn, đặc biệt là các ngành công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, hạ tầng chiến lược. Đây cũng là lực lượng được kỳ vọng đi đầu trong triển khai các định hướng về khoa học - công nghệ và chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
“Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một hệ thống DNNN tinh gọn, hiệu quả, có sức cạnh tranh và giữ vai trò dẫn dắt ở những lĩnh vực then chốt. Số lượng sẽ không phải tiêu chí cứng, mà phụ thuộc vào yêu cầu thực tiễn phát triển và khả năng hoàn thành sứ mệnh của từng doanh nghiệp trong từng giai đoạn”, ông Doãn Thanh Tuấn khẳng định.











