Để dữ liệu đi cùng nông sản

Trên những vùng rau Hà Nội, chuyển đổi số bắt đầu từ việc ghi lại quá trình sản xuất, nhận diện từng hộ cung ứng, từng lô hàng. Nhưng từ nhật ký điện tử đến giá trị trên thị trường vẫn còn khoảng cách. Lấp đầy khoảng cách ấy không chỉ bằng phần mềm hay tem truy xuất, mà bằng cách tổ chức lại sản xuất và bảo đảm người nông dân được hưởng lợi.

Hợp tác xã sản xuất, kinh doanh dịch vụ nông nghiệp Văn Đức triển khai mô hình truy xuất nguồn gốc điện tử. Ảnh: Thu Oanh

Hợp tác xã sản xuất, kinh doanh dịch vụ nông nghiệp Văn Đức triển khai mô hình truy xuất nguồn gốc điện tử. Ảnh: Thu Oanh

Sau mỗi luống rau là dữ liệu

Đến vùng rau Văn Đức, xã Bát Tràng những ngày này, có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh những chiếc tem được gắn với mỗi bó rau đóng gói. Hiện tại, 20 hộ nông nghiệp sản xuất 13 loại rau trên diện tích 9.390m2 tại vùng rau Văn Đức đã tham gia mô hình truy xuất nguồn gốc điện tử. Rau được cung cấp cho hợp tác xã, thu gom, đóng gói rồi phân phối qua siêu thị, cửa hàng tiện lợi. Cùng với sản phẩm, thông tin sản xuất được cập nhật lên hệ thống điện tử, thay cho cách quản lý chủ yếu bằng ghi chép thủ công.

Một thay đổi có vẻ nhỏ, nhưng lại giải quyết được vấn đề không dễ trả lời đầy đủ: Khi rời ruộng, bó rau còn mang theo được bao nhiêu thông tin về người trồng và cách làm ra nó?

Ở Mê Linh, 10 hộ trồng cải, củ trên diện tích 5.960m2 cũng tham gia mô hình truy xuất nguồn gốc điện tử. Dữ liệu về mỗi luống rau được đưa lên hệ thống truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản thực phẩm của thành phố, đồng thời kết nối với hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản cấp bộ.

Đây không chỉ là chuyển nội dung từ trang giấy sang màn hình. Khi thông tin được quản lý theo từng hộ cung ứng, hợp tác xã có thêm căn cứ xác định nguồn hàng, đối chiếu quá trình sản xuất và cung cấp thông tin cho đối tác. Bó rau không chỉ được nhận diện bằng tên vùng trồng, phía sau nó bắt đầu có hồ sơ để kiểm tra.

Tại Hợp tác xã Rau quả sạch Chúc Sơn, phường Chương Mỹ, công nghệ đã đi sâu hơn vào sản xuất. HTX triển khai trạm cảnh báo thời tiết iMetos, hệ thống truy xuất nguồn gốc eGap và đưa sản phẩm lên sàn thương mại điện tử. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi chưa đạt kỳ vọng bởi thiết bị, phần mềm chưa đủ khắc phục những hạn chế về quản trị, nhân lực và kỹ năng số.

Hai thực tế ấy đặt cạnh nhau, cho thấy chuyển đổi số nông nghiệp Hà Nội đang đứng trước yêu cầu có thêm công cụ mới phải đi cùng cách làm mới. Một phần mềm có thể được cài đặt nhanh, nhưng thói quen ghi chép, kiểm tra và sử dụng thông tin cần được duy trì qua từng vụ. Không nên nhìn thành công của mô hình chỉ ở số tài khoản được mở hay số tem được dán.

Nông dân HTX Rau quả sạch Chúc sơn, phường Chương Mỹ sản xuất rau, củ theo mô hình sản xuất mới. Ảnh: HTX Chúc Sơn

Nông dân HTX Rau quả sạch Chúc sơn, phường Chương Mỹ sản xuất rau, củ theo mô hình sản xuất mới. Ảnh: HTX Chúc Sơn

Mã truy xuất không thay thế được sự thật

Mã QR có thể mở ra thông tin sản phẩm, nhưng không tự động bảo đảm chất lượng. Giá trị truy xuất nằm ở dữ liệu đầy đủ, chính xác, xuyên suốt từ sản xuất đến thu gom, sơ chế, đóng gói và phân phối.

Nếu người trồng ghi chép để hoàn thành thủ tục, hợp tác xã cập nhật để đủ hồ sơ, dữ liệu khó phản ánh thay đổi của từng lứa rau. Chiếc tem có thể hiện diện trên bao bì, trong khi quá trình sản xuất vẫn thiếu căn cứ kiểm chứng.

Khó khăn không chỉ nằm ở ý thức thực hiện. Theo ông Hoàng Văn Thám, Giám đốc Hợp tác xã Rau quả sạch Chúc Sơn, thành viên chủ yếu là nông dân lớn tuổi, gặp khó khi sử dụng điện thoại thông minh và cập nhật dữ liệu. Việc số hóa, kết nối tiêu thụ còn phụ thuộc đáng kể vào hỗ trợ kỹ thuật bên ngoài.

Không thể giải quyết những vướng mắc ấy bằng một buổi tập huấn rồi yêu cầu người dân tự vận hành. Hỗ trợ chuyển đổi số cần chuyển từ bàn giao công cụ sang duy trì năng lực sử dụng. Với hộ chưa quen thao tác, cần người hướng dẫn tại chỗ. Với hợp tác xã, phải rõ ai thu thập, ai kiểm tra, ai chịu trách nhiệm khi thông tin sai lệch. Không nhất thiết mọi nông dân đều thành thạo phần mềm, nhưng mỗi người phải hiểu trách nhiệm với dữ liệu mình cung cấp.

Nhìn rộng hơn, dữ liệu còn phải kết nối được giữa các bên. Tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026, ông Vinod Ahuja, Trưởng đại diện Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc tại Việt Nam, đề xuất phát triển hạ tầng dữ liệu dùng chung, thống nhất mã định danh thửa đất, tiêu chuẩn kết nối và cơ chế xác minh độc lập. Hợp tác xã, doanh nghiệp có thể hỗ trợ quản lý dữ liệu và chia sẻ chi phí xác minh với nông dân.

Gợi mở ấy đáng lưu ý với Hà Nội. Không nên để mỗi mắt xích dựng lên một hệ thống riêng, rồi người trồng phải khai đi khai lại cùng một thông tin. Dữ liệu chỉ thực sự đi cùng nông sản khi bên giao và bên nhận hiểu được, đối chiếu được và cùng chịu trách nhiệm.

Đại biểu Nguyễn Thị Lan (đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội) phát biểu tại Phiên thảo luận của Quốc hội về tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2026 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2027. Ảnh: Cổng TTĐT Quốc hội

Đại biểu Nguyễn Thị Lan (đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội) phát biểu tại Phiên thảo luận của Quốc hội về tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2026 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2027. Ảnh: Cổng TTĐT Quốc hội

Đổi tư duy, nâng giá trị

Nông dân có lý do để hỏi: Ghi chép thêm, dành thêm thời gian và chịu thêm chi phí thì được gì?

Câu trả lời không nên là lời hứa cứ có tem truy xuất, nông sản sẽ bán giá cao. Thực tế tại các mô hình ở Hà Nội cho thấy chi phí có thể tăng trong khi giá bán chưa tăng tương ứng. Minh bạch nguồn gốc tạo thêm điều kiện tiếp cận thị trường, nhưng không thay thế chất lượng, năng lực cung ứng và thỏa thuận mua bán.

Giá trị dữ liệu cũng không chỉ nằm ở giá bán. Theo TS. Trương Vĩnh Hải, Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam, các mô hình nông trại thông minh cho thấy tiềm năng nâng năng suất, chất lượng, tiết kiệm nước tưới, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật. Thông tin canh tác có thể giúp điều chỉnh quy trình, kiểm soát đầu vào.

Bởi vậy, cần đánh giá chuyển đổi số cả ở chi phí giảm được, chất lượng ổn định hơn và khả năng tổ chức sản xuất tốt hơn. Với hợp tác xã, dữ liệu phải giúp trả lời những việc cụ thể: Hộ nào sắp thu hoạch? Nguồn hàng có đáp ứng đơn đặt mua? Lô nào cần kiểm tra?

Từ góc nhìn chính sách, đại biểu Nguyễn Thị Lan (đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội), nhấn mạnh thước đo nông nghiệp giai đoạn tới không chỉ ở quy mô sản lượng mà còn ở mức độ làm chủ công nghệ lõi. Làm chủ chuỗi cung ứng đầu vào là điều kiện để giữ lại giá trị gia tăng bền vững, củng cố vị thế nông sản Việt Nam.

Tinh thần ấy gợi mở yêu cầu đổi tư duy phát triển: Không chỉ làm ra nhiều hơn, mà phải chủ động hơn về công nghệ, chất lượng và thị trường.

Với Hà Nội, chuyển đổi số cần phục vụ yêu cầu ấy, thay vì trở thành mục tiêu để hoàn thành chỉ tiêu số hóa. Nhật ký điện tử phải góp phần kiểm soát chất lượng; thông tin nguồn hàng phải hỗ trợ thu gom, phân phối; dữ liệu truy xuất phải tạo căn cứ cho giao dịch và xây dựng thương hiệu.

Nếu nhìn theo cách ấy, một cuốn nhật ký điện tử chỉ có ý nghĩa khi nó góp phần vào cả chuỗi: giúp kiểm soát chất lượng từ ruộng, hỗ trợ thu gom và sơ chế, cung cấp căn cứ cho thương hiệu, rồi cuối cùng tạo điều kiện để sản phẩm được thị trường ghi nhận. Ngược lại, nếu dữ liệu dừng ở khâu ghi chép, giá trị gia tăng khó hình thành.

Từ Văn Đức, Mê Linh đến Chúc Sơn, yêu cầu cuối cùng vẫn là nối liền đồng ruộng với thị trường. Để dữ liệu đi cùng nông sản không phải làm dày thêm hồ sơ, mà để công sức người trồng có căn cứ được nhận diện, kiểm chứng và ghi nhận trong mỗi giao dịch.

Đức Minh

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/de-du-lieu-di-cung-nong-san-1764710.html