Để hơn 407.000 tỷ đồng vốn ưu đãi đi vào thực chất

Việc 19 ngân hàng thương mại tham gia Chương trình tín dụng hỗ trợ các động lực tăng trưởng của nền kinh tế và khu vực DNNVV, với tổng quy mô hơn 407.000 tỷ đồng, đang mở thêm nguồn lực tài chính cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Để nguồn vốn này phát huy hiệu quả, bên cạnh mức lãi suất ưu đãi, yếu tố quan trọng là nhu cầu thực tế, phương án sử dụng vốn và khả năng tạo dòng tiền của doanh nghiệp.

Trao đổi với phóng viên, ông Nguyễn Quang Huy, Giám đốc điều hành Khoa Tài chính - Ngân hàng, Đại học Nguyễn Trãi nhận định, sức khỏe doanh nghiệp đang phục hồi nhưng chưa đồng đều. Một bộ phận doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn về đơn hàng, sức mua, hàng tồn kho, công nợ và chi phí đầu vào. Vì vậy, dù lãi suất thấp hơn, doanh nghiệp vẫn có thể thận trọng với khoản vay mới nếu triển vọng đầu ra và khả năng tạo dòng tiền chưa đủ rõ ràng.

Điều cần quan tâm không chỉ là mức lãi suất ưu đãi mà là khả năng doanh nghiệp đưa nguồn vốn vào hoạt động sản xuất, kinh doanh hiệu quả. Nếu đầu ra chưa thuận lợi, vòng quay vốn chậm hoặc công nợ kéo dài, việc vay thêm dù với chi phí thấp hơn cũng chưa chắc tạo được động lực mở rộng sản xuất. Vì vậy, khả năng phục hồi thị trường và sức khỏe tài chính của doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới tốc độ hấp thụ nguồn vốn của Chương trình.

Khơi thông khả năng hấp thụ hơn 407.000 tỷ đồng vốn ưu đãi. Ảnh minh họa

Khơi thông khả năng hấp thụ hơn 407.000 tỷ đồng vốn ưu đãi. Ảnh minh họa

Chia sẻ ở góc nhìn khác, TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính - ngân hàng, cho rằng để tiếp cận nguồn vốn ưu đãi, doanh nghiệp cần chuẩn bị rõ phương án sử dụng vốn và nguồn trả nợ. Ngân hàng không chỉ quan tâm vốn được dùng vào mục đích gì mà còn cần thấy được dòng tiền hình thành từ hoạt động kinh doanh và khả năng hoàn trả khoản vay. Đây là cơ sở quan trọng để đánh giá tính khả thi của phương án, nhất là với những doanh nghiệp không có nhiều tài sản bảo đảm.

Đồng quan điểm, ông Nguyễn Quang Huy, Giám đốc điều hành Khoa Tài chính - Ngân hàng, Đại học Nguyễn Trãi cho rằng nhiều DNNVV vẫn còn hạn chế về vốn chủ sở hữu, hệ thống kế toán và quản trị tài chính. Dòng tiền kinh doanh ở một số trường hợp chưa tách bạch với tài chính cá nhân, trong khi phương án kinh doanh chưa lượng hóa đầy đủ về thị trường, doanh thu, biên lợi nhuận, điểm hòa vốn và kịch bản trả nợ. Những hạn chế này khiến quá trình đánh giá hồ sơ có thể kéo dài hơn và làm giảm khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp.

Ở góc độ ngân hàng, TS. Nguyễn Trí Hiếu cho rằng các tổ chức tín dụng có thể chủ động hỗ trợ doanh nghiệp cấu trúc khoản vay phù hợp hơn với chu kỳ kinh doanh và đặc điểm nguồn thu. Với những trường hợp còn thiếu tài sản bảo đảm, các cơ chế bảo lãnh và quỹ bảo lãnh tín dụng có thể tạo thêm cơ sở để ngân hàng xem xét cấp vốn mà vẫn bảo đảm yêu cầu quản trị rủi ro. Việc ứng dụng công nghệ và khai thác dữ liệu về khách hàng, thị trường cũng có thể hỗ trợ quá trình đánh giá và giám sát khoản vay.

Từ đó, việc mở rộng khả năng tiếp cận nguồn vốn hơn 407.000 tỷ đồng không chỉ phụ thuộc vào mức lãi suất ưu đãi mà còn đòi hỏi phương thức thẩm định phù hợp hơn với thực tế hoạt động của doanh nghiệp. Ngân hàng có thể kết hợp thông tin về lịch sử giao dịch, hợp đồng đầu ra, hóa đơn điện tử, vị trí trong chuỗi cung ứng và năng lực quản trị để bổ sung cho các tiêu chí truyền thống. Khi nguồn dữ liệu đầy đủ và đáng tin cậy hơn, quá trình đánh giá có thể sát hơn với năng lực kinh doanh thực tế của doanh nghiệp, đồng thời giảm phụ thuộc vào một tiêu chí đơn lẻ.

Cùng với đổi mới phương thức thẩm định, các sản phẩm tín dụng cũng cần phù hợp hơn với đặc điểm hoạt động của từng nhóm doanh nghiệp. Các hình thức như tài trợ chuỗi cung ứng, bao thanh toán, cho thuê tài chính hay cho vay dựa trên doanh thu có thể bổ sung cho phương thức cho vay truyền thống. Việc chuẩn hóa bộ hồ sơ theo từng ngành nghề, tư vấn doanh nghiệp xây dựng kế hoạch dòng tiền và đẩy mạnh số hóa quy trình cũng có thể góp phần rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu kiểm soát mục đích sử dụng vốn và giám sát sau giải ngân.

Bên cạnh các giải pháp từ phía ngân hàng, việc nâng khả năng hấp thụ vốn còn cần sự phối hợp của các bộ, ngành, địa phương trong hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường và cải thiện năng lực sản xuất, kinh doanh. Theo ông Nguyễn Quang Huy, các chương trình tín dụng sẽ phát huy hiệu quả tốt hơn nếu được kết nối với hoạt động xúc tiến thương mại, hỗ trợ xuất khẩu, thương mại điện tử và tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào hệ thống phân phối, chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp lớn.

Ở phạm vi rộng hơn, hiệu quả của Chương trình còn phụ thuộc vào sự phối hợp giữa tín dụng với các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp. Các cơ quan quản lý cần tiếp tục tháo gỡ vướng mắc trong hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh; nâng cao hiệu quả của các quỹ bảo lãnh tín dụng; tăng kết nối dữ liệu về thuế, hóa đơn, đăng ký kinh doanh và lịch sử tín dụng có thể tạo thêm cơ sở để ngân hàng thẩm định nhanh và chính xác hơn. Đồng thời, các cơ chế hỗ trợ và chia sẻ rủi ro phù hợp cũng sẽ góp phần tạo điều kiện để dòng vốn đến được nhiều doanh nghiệp hơn mà vẫn bảo đảm yêu cầu an toàn.

TS. Nguyễn Trí Hiếu nhìn nhận, về dài hạn, hiệu quả của Chương trình cũng không nên chỉ đo bằng quy mô hay tiến độ giải ngân. Cần nhìn thêm vào phạm vi doanh nghiệp thực sự tiếp cận được vốn, mức độ phân bổ tín dụng giữa các địa phương, lĩnh vực và đặc biệt là chất lượng các khoản vay sau giải ngân. Điều này sẽ phản ánh rõ hơn nguồn vốn ưu đãi có thực sự đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh và tạo ra hiệu quả bền vững hay không.

Hồng Sơn

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/de-hon-407000-ty-dong-von-uu-dai-di-vao-thuc-chat-188152.html