Đề kiểm tra giữa kì môn Ngữ văn 12: Sống là chính mình
Câu nghị luận xã hội đề kiểm tra giữa kì môn Ngữ văn 12 một trường trung học phổ thông tỉnh Thanh Hoá yêu cầu học sinh bàn về vấn đề sống là chính mình.

Đề kiểm tra giữa kì môn Ngữ văn 12
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
...Tổ quốc là khi mẹ sinh con
Có cái mũi dọc dừa, màu da vàng như nắng
Đêm trở dạ có bà con chòm xóm
Bếp lửa hồng ấm suốt cả đời ta
Con lớn như măng trong sự tích đằng ngà
Hồn trẻ Việt tự mang hồn Thánh Gióng
Nết phúc hậu dịu dàng cô Tấm
Nghĩa đồng bào ôm trọn biển và non
Là ngọt ngào tiếng Việt môi son
Ôi tiếng Việt bao thăng trầm xa xót
Cánh cò bay lả vào câu hát
Chạm trang Kiều, tiếng Việt hóa lung linh [...]
Tổ quốc là biên chấn áo mong manh
Tây rồi Bắc đổi mùa ràn rạt gió
Bao thế kỷ những đợi chờ hóa đá
Đất nước vĩnh hằng cánh võng trước thềm khơi
Là dòng máu cha ông tha thiết chảy muôn đời
Thấm vào đất, vào con, vào sắc cờ cháy rực
Là tất cả những gì yêu dấu nhất
Không gọi được thành lời, thì gọi Tổ quốc ơi!
(Trích Tổ quốc, Nguyễn Sĩ Đại, dẫn theo Văn bản đọc hiểu Ngữ văn 12, Đỗ Ngọc Thống (Chủ biên), Nhà xuất bản Đại học Huế, 2024, trang 174-175)
Chú thích: Nguyễn Sĩ Đại sinh năm 1955, quê ở Hà Tĩnh, công tác tại Báo Nhân Dân. Người ta biết đến ông trước hết là một nhà báo, sau đó là nhà thơ, nhà phê bình văn học. Ông là Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội khóa 2011-2015. Sách đã xuất bản: Nơi em về, Trái tim người lính, Dưới sắc cờ và trời thu Hà Nội... (thơ); Một số đặc trưng của thơ tứ tuyệt đời Đường (nghiên cứu), Khoảng trời con gái (kịch). Bài thơ "Tổ quốc" in trong tập "Trái tim người lính" (1998). Bài thơ được thi sĩ viết tặng hai con trai "cho Hoàng và cho Nhật".
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Chỉ ra dấu hiệu để xác định thể thơ của đoạn trích.
Câu 2. Xác định đề tài của đoạn trích.
Câu 3. Nêu tác dụng của phép điệp cấu trúc được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 4. Nhận xét tình cảm của nhân vật trữ tình đối với Tổ quốc được thể hiện trong đoạn trích trên.
Câu 5. Từ nội dung đoạn trích, anh/chị hãy bày tỏ suy nghĩ về trách nhiệm của thể hệ trẻ ngày nay đối với Tổ quốc (Trình bày khoảng 6 đến 8 dòng).
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm): Anh/chị hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận về hình tượng Tổ quốc trong đoạn trích phần Đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm): Văn hào lỗi lạc người Đức Hermann Hesse từng viết: "Tôi không chịu trách nhiệm cho sự vô nghĩa hay ý nghĩa của cuộc đời, nhưng tôi cần chịu trách nhiệm với những điều tôi làm cho cuộc đời của mình".
Từ góc nhìn của người trẻ, anh/chị hãy viêt 01 bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về vấn đề: Sống là chính mình.
Gợi ý đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1. Số chữ trong các dòng thơ không bằng nhau (có dòng 7 chữ, có dòng 8 chữ, có dòng 10 chữ….) là dấu để xác định thể thơ tự do của đoạn trích.
Câu 2. Đề tài của đoạn trích: Tổ quốc (hoặc Đất nước).
Câu 3. Biện pháp điệp cấu trúc: Tổ quốc là …(hoặc Tổ quốc là … là)
Tác dụng: Làm cho đoạn thơ sinh động, hấp dẫn, tạo nhịp điệu đều đặn, vừa uyển chuyển vừa mạnh mẽ, góp phần tăng tính biểu cảm cho bài thơ. Khắc họa đầy ấn tượng bức tranh tổng thể về Tổ quốc, giàu sức sống và sâu lắng. Đồng thời nhấn mạnh cảm xúc tự hào, biết ơn đối với Tổ quốc.
Câu 4. Tình cảm của nhân vật trữ tình đối với Tổ quốc: xúc động, tự hào về vẻ đẹp của Tổ quốc; trân trọng, biết ơn, ngợi ca những hi sinh của các thế hệ cha anh để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Đó là tình cảm chân thành, rất đáng trân trọng, ngợi ca.
Câu 5. Nội dung đoạn trích: Đoạn trích khắc hoạ hình ảnh Tổ quốc thiêng liêng, gần gũi với mỗi con người. Qua đó thể hiện tình yêu, sự gắn bó với Tổ quốc.
Trách nhiệm của thế hệ trẻ ngày nay đối với Tổ quốc: Nhận thức đúng đắn về vai trò, trách nhiệm trong việc bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ. Có ý thức giữ gìn và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Học tập, rèn luyện để làm chủ cuộc sống, góp phần xây dựng đất nước.
II. VIẾT
Đoạn văn nghị luận văn học:
Hình ảnh Tổ quốc hiện lên thật cụ thể, chân thực, gần gũi, gắn bó với mỗi người từ khi sinh ra đến lúc lớn lên (mẹ sinh con, mũi dọc dừa, màu da vàng như nắng, bếp lửa hồng)
Tổ quốc hiện lên vô cùng thiêng liêng, cao quý, kết tinh trong huyết quản mỗi con người:
Là mạch nguồn văn hoá truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc: ngọt ngào tiếng Việt, truyện Kiều, câu hát.
Là sự hi sinh xương máu của các thế hệ đi trước để khai phá, vun đắp, giữ gìn đất nước: biên trấn áo mong manh, dòng máu cha ông.
Là tất cả những gì yêu dấu nhất, xúc động nhất, không thể diễn tả hết bằng lời.
Thể thơ tự do, giọng thơ tha thiết; ngôn ngữ gần gũi, quen thuộc; sử dụng chất liệu văn học dân gian.
Bài văn nghị luận xã hội:
Giải thích:
Sống là chính mình là sống trung thực với suy nghĩ, cảm xúc và giá trị của bản thân. Đó là khi con người dám thể hiện cá tính riêng, dám theo đuổi ước mơ và lựa chọn con đường phù hợp với khả năng của mình. Tuy nhiên, sống là chính mình không đồng nghĩa với việc sống tùy tiện hay ích kỷ, mà phải luôn gắn với trách nhiệm và đạo đức.
Phân tích – Chứng minh:
Tại sao cần phải sống là chính mình? Trong cuộc sống hiện đại, mỗi người đều phải đối mặt với nhiều áp lực từ gia đình, xã hội và đặc biệt là từ những chuẩn mực chung của đám đông. Việc sống là chính mình trở thành một giá trị vô cùng quan trọng đối với mỗi cá nhân. Sống là chính mình không chỉ giúp con người khẳng định bản thân mà còn góp phần tạo nên một xã hội đa dạng và giàu bản sắc.
Ý nghĩa của việc sống là chính mình:
Giúp mỗi người tự tin hơn trong cuộc sống: Khi biết yêu bản thân, hài lòng với những gì mình đang có ta sẽ biết trân trọng bản thân, nhờ đó, mỗi người có thể phát huy thế mạnh riêng và tạo ra những giá trị có ích cho cộng đồng.
Giúp mỗi người sống lạc quan, sẵn sàng đương đầu và đối diện với những thách thức, rủi ro của cuộc sống:
Thành công trong cuộc sống: Luôn tin vào giá trị và khả năng của bản thân; kiên nhẫn, nỗ lực để thực hiện mục tiêu…
Bàn luận mở rộng vấn đề:
Có những người tự ti, không dám sống là chính mình vì có những người xung quanh không chịu chấp nhận bản chất thật của những người bên cạnh họ. Luôn phán xét, kì thị họ khiến họ trở nên tự ti vào chính mình.
Sống là chính mình không có nghĩa là bảo thủ và đề cao cái tôi cá nhân.
Bài học nhận thức và hành động:
Nhắc nhở mỗi người về tầm quan trọng của việc sống là chính mình. Sống có ích, suy nghĩ kĩ trước khi hành động. Trân trọng bản thân; tự tin, dung cảm, nỗ lực trong cuộc sống.

