Để Ngày Văn hóa Việt Nam trở thành chu trình hành động

Việc ban hành Kế hoạch tổ chức 'Ngày Văn hóa Việt Nam' giai đoạn 2026-2030 là một dấu mốc đáng chú ý trong tư duy quản trị văn hóa hiện nay. Khi ngày 24.11 hằng năm được xác lập là Ngày Văn hóa Việt Nam, điều quan trọng không chỉ nằm ở việc có thêm một ngày để tôn vinh truyền thống, mà ở chỗ văn hóa được đặt vào một chu trình hành động thường niên, có mục tiêu, có chủ thể, có không gian triển khai và có trách nhiệm thực hiện.

Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, cạnh tranh sức mạnh mềm ngày càng gay gắt, chuyển đổi số làm thay đổi sâu sắc đời sống tinh thần con người, Ngày Văn hóa Việt Nam cần được hiểu không phải như một hoạt động kỷ niệm đơn thuần, mà như một lời nhắc nhở và cũng là một cam kết: Phải biến văn hóa thành sức mạnh nội sinh, thành năng lực phát triển và thành nền tảng tinh thần của quốc gia trong kỷ nguyên mới.

Người dân và cộng đồng phải là chủ thể cũng là đối tượng thụ hưởng các hoạt động văn hóa. Trong ảnh: Lễ hội đua thuyền truyền thống Tứ Linh tại đặc khu Lý Sơn (Quảng Ngãi). Ảnh: N.ĐỒNG

Người dân và cộng đồng phải là chủ thể cũng là đối tượng thụ hưởng các hoạt động văn hóa. Trong ảnh: Lễ hội đua thuyền truyền thống Tứ Linh tại đặc khu Lý Sơn (Quảng Ngãi). Ảnh: N.ĐỒNG

Không để văn hóa chỉ dừng ở lễ nghi, khẩu hiệu...

Trong đời sống xã hội, các ngày kỷ niệm luôn có ý nghĩa quan trọng. Chúng giúp cộng đồng nhớ về cội nguồn, tri ân quá khứ, củng cố niềm tin và khơi dậy trách nhiệm. Nhưng nếu một ngày kỷ niệm chỉ dừng ở nghi thức, khẩu hiệu, chương trình biểu diễn hay những bản tổng kết thành tích, thì ý nghĩa của nó sẽ bị thu hẹp rất nhiều. Với văn hóa, điều đó càng đáng suy nghĩ.

Bởi văn hóa không phải là điều chỉ được nhắc đến trong những dịp trang trọng, mà là dòng chảy hằng ngày trong đời sống con người; không phải chỉ nằm trên sân khấu, trong bảo tàng, ở lễ hội hay các văn bản chính sách, mà hiện diện trong từng gia đình, trường học, công sở, khu dân cư, làng nghề, di tích, thư viện, không gian công cộng và cả không gian mạng.

Chính vì vậy, Ngày Văn hóa Việt Nam cần được tổ chức với một tinh thần mới: Không phải thêm một ngày để “làm văn hóa”, mà là một dịp để kiểm điểm xem văn hóa đã thật sự thấm vào đời sống đến đâu. Chúng ta đã xây dựng được môi trường văn hóa lành mạnh trong gia đình, nhà trường, cơ quan, doanh nghiệp, cộng đồng chưa? Thiết chế văn hóa cơ sở có thực sự sáng đèn và có người dân tham gia không? Thư viện có còn là nơi nuôi dưỡng tri thức và cảm hứng không? Di sản có được bảo vệ bằng tình yêu và trách nhiệm không? Lễ hội có giữ được sự trang nghiêm, nhân văn và bản sắc không? Không gian mạng có trở thành nơi lan tỏa cái đẹp, cái đúng, cái tử tế hay lại đang bị lấn át bởi sự dễ dãi, lệch chuẩn và độc hại?

Đặt những câu hỏi ấy mới thấy, điều đáng lo không phải là chúng ta thiếu hoạt động văn hóa, mà là nhiều hoạt động chưa chạm đến chiều sâu của đời sống. Không thiếu nơi có nhà văn hóa nhưng ít người đến; có thư viện nhưng vắng bạn đọc; có lễ hội nhưng còn nặng thương mại hóa; có chương trình nghệ thuật nhưng thiếu sức sống trong cộng đồng; có phong trào xây dựng đời sống văn hóa nhưng chưa tạo được chuyển biến rõ rệt trong ứng xử xã hội. Nếu Ngày Văn hóa Việt Nam chỉ làm dày thêm những báo cáo hoạt động mà không làm dày thêm đời sống tinh thần của người dân, thì chúng ta chưa đi tới bản chất của vấn đề.

Trong các phát biểu gần đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh tinh thần đổi mới tư duy, đặt con người ở trung tâm, củng cố niềm tin xã hội, phát huy sức mạnh nội sinh của dân tộc để bước vào giai đoạn phát triển mới. Tinh thần ấy rất gần với yêu cầu đặt ra đối với văn hóa hiện nay. Văn hóa không thể là phần “trang trí” của phát triển. Văn hóa phải là nền tảng hình thành con người, là môi trường nuôi dưỡng nhân cách, là hệ điều tiết hành vi, là sức mạnh tạo đồng thuận, là nguồn lực để đất nước không chỉ tăng trưởng nhanh hơn mà còn phát triển nhân văn hơn, bền vững hơn...

Việt Nam có một kho tàng văn hóa vô cùng phong phú: Lịch sử lâu dài, di sản đa dạng, văn hóa các dân tộc giàu bản sắc, ẩm thực hấp dẫn, nghệ thuật truyền thống đặc sắc, làng nghề lâu đời, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài rộng lớn, thế hệ trẻ ngày càng năng động và sáng tạo. Nhưng tiềm năng không tự chuyển hóa thành sức mạnh. Muốn văn hóa trở thành sức mạnh mềm cần có thể chế phù hợp, nguồn lực tương xứng, nhân lực chuyên nghiệp, thị trường lành mạnh, công nghệ hỗ trợ, truyền thông hiện đại và đặc biệt là sự tham gia thực chất của nhân dân.

Điểm quan trọng của Ngày Văn hóa Việt Nam chính là ở chỗ phải khẳng định nhân dân không chỉ là người thụ hưởng, mà là chủ thể sáng tạo, bảo tồn, trao truyền và phát huy văn hóa. Một nền văn hóa mạnh không thể chỉ được tạo ra bởi các cơ quan quản lý hay các chương trình do Nhà nước tổ chức. Nền văn hóa ấy phải sống trong từng cộng đồng, từng gia đình, từng con người. Một nghệ nhân còn truyền nghề cho thế hệ trẻ, một làn điệu dân ca còn vang lên trong sinh hoạt cộng đồng, một lễ hội còn giữ được phẩm giá văn hóa, một tủ sách gia đình còn được duy trì, một di tích còn được người dân chăm sóc, một khu dân cư còn giữ được nghĩa tình…, đó chính là những nền móng bền vững nhất của sức mạnh văn hóa quốc gia.

Vì thế, Ngày Văn hóa Việt Nam phải là ngày của toàn dân, chứ không chỉ là ngày của ngành văn hóa. Đó là ngày để mỗi người tự hỏi mình có thể làm gì cho văn hóa Việt Nam: Giữ gìn tiếng Việt, đọc một cuốn sách hay, sống tử tế hơn, ứng xử văn minh hơn trên mạng, tôn trọng di sản, bảo vệ môi trường, sáng tạo một sản phẩm có bản sắc, kể một câu chuyện đẹp về quê hương, hoặc đơn giản là làm cho không gian sống của mình nhân văn hơn. Khi văn hóa được thực hành bằng những việc cụ thể như vậy, một ngày kỷ niệm mới thật sự trở thành động lực xã hội.

Quan tâm chăm sóc cảnh quan di tích nơi mình sống, học tập cũng là hành động đẹp trong Ngày Văn hóa Việt Nam. Trong ảnh: Xã Kiên Đài (Tuyên Quang) phát động ra quân vệ sinh, chăm sóc di tích trên địa bàn. Ảnh: B.LINH

Quan tâm chăm sóc cảnh quan di tích nơi mình sống, học tập cũng là hành động đẹp trong Ngày Văn hóa Việt Nam. Trong ảnh: Xã Kiên Đài (Tuyên Quang) phát động ra quân vệ sinh, chăm sóc di tích trên địa bàn. Ảnh: B.LINH

Chương trình hành động thực chất

Một kế hoạch tốt mới chỉ là điểm khởi đầu. Điều quyết định là cách tổ chức thực hiện. Để Ngày Văn hóa Việt Nam không trở thành phong trào ngắn hạn, cần chuyển từ tư duy sự kiện sang tư duy chương trình; từ tổ chức hoạt động sang kiến tạo môi trường; từ tôn vinh chung chung sang giải quyết những vấn đề cụ thể của đời sống văn hóa.

Trước hết, cần gắn Ngày Văn hóa Việt Nam với xây dựng văn hóa cơ sở. Đây là tầng nền của mọi chính sách văn hóa. Một nhà văn hóa thôn hoạt động hiệu quả, một thư viện cộng đồng có người đọc, một câu lạc bộ nghệ thuật dân gian được duy trì, một di tích được chăm sóc, một lễ hội được tổ chức văn minh, một khu dân cư có nếp sống nghĩa tình, một trường học biết nuôi dưỡng tâm hồn học sinh, tất cả những điều đó có ý nghĩa sâu sắc hơn nhiều so với những sự kiện lớn nhưng xa đời sống. Trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp, cấp cơ sở càng cần được trao quyền, trao nguồn lực và trao công cụ để chủ động tổ chức đời sống văn hóa phù hợp với đặc điểm của từng cộng đồng.

Thứ hai, cần phát triển văn hóa đọc như một nội dung trọng tâm. Một dân tộc muốn phát triển bền vững phải là một dân tộc ham học, biết đọc, biết suy nghĩ và biết đối thoại với tri thức. Trong thời đại số, khi con người bị cuốn vào thông tin ngắn, nhanh, giật gân, dễ dãi, văn hóa đọc chính là cách rèn luyện chiều sâu tư duy, năng lực phản biện và sức đề kháng trước thông tin sai lệch. Ngày Văn hóa Việt Nam cần trở thành dịp để mở rộng thư viện, tủ sách gia đình, tủ sách dòng họ, không gian đọc trong trường học, khu công nghiệp, vùng sâu, vùng xa; đồng thời khuyến khích nhà xuất bản, doanh nghiệp công nghệ, nền tảng số cùng tham gia xây dựng hệ sinh thái đọc mới cho xã hội.

Thứ ba, cần đưa văn hóa Việt Nam lên không gian số một cách chủ động và hấp dẫn. Không gian số hôm nay không còn là “mặt trận phụ”, mà là môi trường sống thực sự của hàng chục triệu người, nhất là thế hệ trẻ. Nếu văn hóa Việt Nam không hiện diện mạnh mẽ trên không gian số, khoảng trống ấy sẽ bị lấp đầy bởi các nội dung lệch chuẩn, phản cảm, ngoại lai hoặc thuần túy thương mại. Số hóa di sản, xây dựng dữ liệu văn hóa, phát triển bảo tàng số, thư viện số, sân khấu số, bảo vệ bản quyền số, khuyến khích người trẻ sáng tạo nội dung văn hóa Việt Nam trên các nền tảng mới phải trở thành những nhiệm vụ cụ thể. Văn hóa số không chỉ là câu chuyện công nghệ, mà là câu chuyện chủ quyền văn hóa, bản lĩnh văn hóa và năng lực sáng tạo của quốc gia.

Thứ tư, cần phát huy di sản như một nguồn lực phát triển, nhưng tuyệt đối không đánh đổi linh hồn của di sản. Di sản không thể chỉ được cất giữ trong tủ kính, nhưng cũng không thể bị khai thác thô bạo. Cần phát triển du lịch văn hóa, công nghiệp văn hóa, sản phẩm thủ công, thiết kế sáng tạo, trải nghiệm di sản theo hướng có trách nhiệm, có sự tham gia và hưởng lợi của cộng đồng. Khi người dân sống được bằng di sản một cách tử tế, họ sẽ có thêm động lực giữ di sản. Khi di sản được kể bằng ngôn ngữ hiện đại mà vẫn giữ được phẩm giá, di sản sẽ tiếp tục sống trong đời sống đương đại.

Thứ năm, cần gắn Ngày Văn hóa Việt Nam với ngoại giao văn hóa và sức mạnh mềm quốc gia. Trong một thế giới cạnh tranh gay gắt về hình ảnh, mỗi món ăn, bộ phim, cuốn sách, sản phẩm thủ công, lễ hội, làn điệu dân ca, tà áo dài hay câu chuyện về con người Việt Nam đều có thể trở thành một “đại sứ văn hóa”. Nhưng muốn văn hóa Việt Nam đi xa, cần sự chuyên nghiệp trong sáng tạo, bảo vệ bản quyền, truyền thông, xây dựng thị trường, kết nối doanh nghiệp với nghệ sĩ, kết nối trong nước với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Niềm tự hào dân tộc là cần thiết, nhưng để đi ra thế giới, niềm tự hào ấy phải được chuyển hóa thành sản phẩm chất lượng, câu chuyện hấp dẫn và chiến lược bài bản.

Cuối cùng, cần có cơ chế đánh giá thực chất. Sau mỗi Ngày Văn hóa Việt Nam, không nên chỉ tổng kết đã tổ chức bao nhiêu chương trình, có bao nhiêu người tham dự, bao nhiêu tin bài được đăng tải. Điều cần quan tâm hơn là có thêm không gian văn hóa nào được tạo lập, có thêm thư viện nào được mở, có thêm nghệ nhân nào được hỗ trợ, có thêm di sản nào được bảo vệ tốt hơn, có thêm trẻ em nào được tiếp cận sách và nghệ thuật, có thêm sản phẩm văn hóa số nào có chất lượng, có thêm mô hình cộng đồng nào được nhân rộng. Văn hóa cần cảm xúc, nhưng quản trị văn hóa cần dữ liệu, tiêu chí và trách nhiệm.

Từ một ngày kỷ niệm đến một chương trình hành động văn hóa thực chất là một chặng đường đòi hỏi quyết tâm, sáng tạo và kiên trì. Ngày Văn hóa Việt Nam sẽ có ý nghĩa lớn nếu nó không chỉ đánh thức ký ức, mà còn khơi dậy hành động; không chỉ tôn vinh di sản, mà còn tạo điều kiện để di sản sống trong hiện tại; không chỉ nuôi dưỡng niềm tự hào, mà còn hình thành năng lực sáng tạo; không chỉ nói về bản sắc, mà còn biến bản sắc thành sức mạnh phát triển.

PGS.TS BÙI HOÀI SƠN

Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/van-hoa/de-ngay-van-hoa-viet-nam-tro-thanh-chu-trinh-hanh-dong-239667.html