Để nghĩa trang liệt sĩ trở thành công viên lịch sử, văn hóa tâm linh:Kỳ 4 - Trước hết cần có những nhận thức mới
Từ ý tưởng phát huy giá trị các nghĩa trang liệt sĩ theo hướng công viên lịch sử, văn hóa tâm linh, vấn đề đặt ra không chỉ là chỉnh trang, nâng cấp cảnh quan mà theo nhà sử học Dương Trung Quốc, điều cốt lõi là phải làm sao cho nơi đây thật sự trở thành một 'trường học lịch sử', một 'bảo tàng ký ức' gần gũi với cộng đồng, nhất là thế hệ trẻ.
Để nghĩa trang liệt sĩ trở thành công viên lịch sử, văn hóa tâm linh: Kỳ 3 - Những người còn mang “món nợ”... Để nghĩa trang liệt sĩ trở thành công viên lịch sử, văn hóa tâm linh: Kỳ 2 - “Các anh nằm đây, thưa sao còn vắng...“ Để nghĩa trang liệt sĩ trở thành công viên lịch sử, văn hóa tâm linh: Kỳ 1 - Lặng nghe những tiếng rì rầm
Trao đổi với Văn Hóa xung quanh đề xuất nâng cấp mô hình nghĩa trang liệt sĩ (NTLS) thành công viên lịch sử, văn hóa tâm linh, nhà sử học Dương Trung Quốc cho biết, không quốc gia nào nhiều NTLS như nước ta. “Với tư cách là thân nhân của liệt sĩ, từ lâu tôi cũng đã suy nghĩ và đau đáu về câu chuyện này. Với tư cách người nghiên cứu lịch sử, tôi cũng rất chia sẻ với cách đặt vấn đề của Báo Văn Hóa. Làm được thì quáý nghĩa, nhưng để điều đó trở thành hiện thực là điều khó bởi nhiều yếu tố liên quan”, ông Quốc cho hay.
Lâu nay chúng ta đã dành nhiều sự quan tâm cho việc tu bổ, tôn tạo các NTLS, công trình ghi công, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Tuy nhiên, theo ông Quốc, nếu nghĩa trang chỉ dừng lại ở sự khang trang, sạch đẹp thì vẫn chưa đủ. “Lịch sử lâu nay vẫn tập trung nhiều vào biểu tượng. Biểu tượng là cần thiết, nhưng nếu chỉ có biểu tượng mà thiếu con người cụ thể thì chưa chạm được đến cảm xúc”, ông nói. Theo nhà sử học Dương Trung Quốc, điều quan trọng là phải làm sống lại câu chuyện phía sau từng phần mộ. Mỗi liệt sĩ không chỉ là một tên gọi trên bia đámà là một cuộc đời đã từng sống, từng yêu thương, từng có gia đình, quê hương, đơn vị, lý tưởng và khát vọng. Nếu người trẻ đến nghĩa trang và biết được người nằm dưới đó là ai, chiến đấu ở đâu, hy sinh trong hoàn cảnh nào, thì bài học lịch sử sẽ trở nên gần gũi hơn rất nhiều. Và khi đó không gian ở nghĩa trang sẽ không còn khô lạnh.
“Mỗi phần mộ là một con người, một gia đình, một làng quê, một số phận. Từ con người cụ thể, người trẻ sẽ hiểu được lịch sử lớn hơn; từ một ngôi mộ cụ thể, các em sẽ hiểu được giátrị của sự hy sinh của cả một thế hệ”, ông nhấn mạnh.

Từ những câu chuyện được kể ngay giữa NTLS, ký ức lịch sử có thể trở thành bài học trực quan sinh động cho thế hệ trẻ. Ảnh: VĨNH QUÝ
Một xã nhỏ cũng có thể kể câu chuyện lớn
Từ góc nhìn lịch sử, ông Dương Trung Quốc cho rằng, không chỉ các NTLS quốc gia hay những địa danh lớn mới có khả năng giáo dục truyền thống. Ngược lại, chính các nghĩa trang ở cấp xã, phường lại có lợi thế đặc biệt vì gắn chặt với cộng đồng địa phương. Ở một nghĩa trang nhỏ của một xã, người dân có thể biết rõ từng liệt sĩ là người làng nào, gia tộc nào. Học sinh có thể được nghe kể đây là người trong xóm, người kia từng học ở ngôi trường địa phương, người khác hy sinh tại Điện Biên Phủ, chiến trường miền Nam, chiến tranh biên giới… Khi ấy, lịch sử không còn là điều xa xôi.
“Chiến dịch Điện Biên Phủ nằm ngay trong từng NTLS cấp xã, phường nếu nơi đấy có phần mộ liệt sĩ hy sinh tại Điện Biên Phủ. Từ đó, bài học lịch sử trở nên gần gũi, sống động hơn đối với thế hệ trẻ. Một xã nhỏ cũng có thể kể câu chuyện lớn của đất nước nếu biết kết nối những con người cụ thể ấy với dòng chảy chung của lịch sử dân tộc”, ông Dương Trung Quốc đưa ra quan điểm. Đây cũng là điểm gặp gỡ với ý tưởng mà Văn Hóa đang gợi mở: Nâng cấp các NTLS trở thành công viên lịch sử, văn hóa tâm linh, để nơi đây không chỉ là nơi thắp hương tưởng niệm, mà còn trở thành không gian giáo dục truyền thống ngay trong đời sống cơ sở. Không cần nhất thiết phải xây dựng công trình thật lớn, thật hoành tráng; điều quan trọng là nghĩa trang ấy có khả năng kể chuyện, có người đến, có hoạt động thường xuyên và có sự gắn bó với cộng đồng.
Tất nhiên, ý tưởng này không phải biến nghĩa trang thành công viên theo nghĩa thông thường mà là làm cho nghĩa trang trở thành một không gian mở hơn về mặt tiếp cận lịch sử, nhân văn hơn trong đời sống cộng đồng và sinh động hơn trong giáo dục truyền thống. NTLS cần được giữ nguyên sự trang nghiêm, nhưng đồng thời được bổ sung thêm chức năng giáo dục, bảo tồn và truyền tải ký ức.
Để NTLS có chức năng bảo tồn và giáo dục
Chúng ta ai cũng có thể thấy rõ là lâu nay NTLS vẫn mang nặng sự khép kín, nhiều khoảng lặng. Thực tế ấy khiến chúng ta phải suy nghĩ cách quản lý, phát huy giá trị. Đó là vẫn giữ nguyên sự trang nghiêm, tôn kính, nhưng cần bổ sung thêm chức năng bảo tàng và giáo dục vào trong NTLS. Có như thế nơi đây mới trở thành “trường học lịch sử”, nơi thật sự gần gũi, lắng đọng với đời sống cộng đồng.
(Nhà sử học DƯƠNG TRUNG QUỐC)
Theo nhà sử học Dương Trung Quốc, hướng đi cần thiết nhất là bổ sung cho NTLS những chức năng như bảo tồn và giáo dục. Bảo tồn ở đây không nhất thiết là một bảo tàng đồ sộ. Đó có thể là một phòng truyền thống nhỏ, một bảng thông tin, một góc trưng bày, một hệ thống dữ liệu số, một cuốn sổ ghi danh, một vài kỷ vật, bức ảnh, lá thư, tấm bản đồ, câu chuyện do gia đình liệt sĩ, CCB hoặc địa phương cung cấp. Thực tế cho thấy việc mỗi gia đình tự lưu giữ kỷ vật của liệt sĩ cũng gặp phải nhiều khó khăn.
Giáo dục ở đây cũng không chỉ là một buổi ngoại khóa hình thức. Đó phải là quá trình để học sinh, sinh viên được tiếp cận lịch sử bằng trải nghiệm trực tiếp: Lau dọn phần mộ, đọc tên liệt sĩ, tìm hiểu tiểu sử, nghe CCB kể chuyện, ghi chép, làm bài thu hoạch, tham gia thắp hương, thắp nến tri ân. “Học sinh đến nghĩa trang không chỉ thắp hương. Khi trực tiếp tham gia thường xuyên những hoạt động như vậy, các em mới thấm được những bài học lịch sử. Kiến thức từ sách giáo khoa, từ giáo viên là kiến thức tổng quát, nhưng ở NTLS các em sẽ biết về lịch sử gắn liền với chính gia đình, địa phương của mình”, ông nói.
Đây là một gợi mở quan trọng. Bởi nếu nghĩa trang chỉ được chỉnh trang đẹp hơn mà thiếu nội dung lịch sử, thiếu hoạt động giáo dục, thiếu sự tham gia của nhà trường và đoàn thể, thì nơi ấy vẫn có nguy cơ vắng lặng sau những ngày lễ lớn. Ngược lại, nếu mỗi nghĩa trang trở thành một điểm học lịch sử ngoài trời, một nơi để thế hệ trẻ nhìn thấy tên tuổi, quê quán, tuổi đời, sự hy sinh của những con người cụ thể, thì sự tri ân sẽ không còn là khẩu hiệu. Một trong những vấn đề được ông Dương Trung Quốc nhấn mạnh là không thể giao toàn bộ việc phát huy giá trị nghĩa trang cho riêng cơ quan quản lý hay người quản trang mà phải đưa nghĩa trang vào đời sống cộng đồng. Cần có nhiều lực lượng cùng tham gia như nhà trường, đoàn thanh niên, hội CCB, hội phụ lão...
Nhà trường là nơi tổ chức hoạt động giáo dục. Đoàn thanh niên là lực lượng có khả năng tạo phong trào thường xuyên. Hội cựu chiến binh có thể tham gia kể chuyện lịch sử, kết nối ký ức chiến trường. “Người dân phải thấy nghĩa trang ấy là của làng mình, xã mình, là nơi lưu giữ ký ức của chính quê hương mình”, ông nói. Trong thực tế, nhiều địa phương đã có hoạt động thanh thiếu niên chăm sóc nghĩa trang, thắp nến tri ân, báo công, vệ sinh phần mộ. Tuy nhiên, để trở thành nền nếp bền vững, các hoạt động này cần được tổ chức thường xuyên, có phân công rõ ràng và được kết nối với nội dung giáo dục lịch sử của địa phương. Chỉ khi ấy, NTLS mới không còn là nơi đến vào dịp 27.7, mà trở thành một phần trong đời sống văn hóa, giáo dục của cộng đồng.
Từ kinh nghiệm quan sát nhiều di tích, công trình tưởng niệm, nhà sử học Dương Trung Quốc cũng lưu ý: “Chúng ta không cần làm hoành tráng rồi không phát huy được. Làm một mô hình có sức sống rồi nhân rộng, còn hơn làm hình thức”, ông nói. Theo ông, nên bắt đầu từ những việc cụ thể, phù hợp với địa phương. Trước hết là khảo sát mỗi nghĩa trang đang có gì, thiếu gì: Thông tin tiểu sử liệt sĩ có đầy đủ không, có bảng giới thiệu chưa, có cây xanh, lối đi, ánh sáng, nơi dừng chân không; có trường học gần đó, có CCB hoặc người cao tuổi nào có thể kể chuyện không, có thân nhân liệt sĩ nào còn giữ kỷ vật, tư liệu hay hình ảnh không. Từ đó, địa phương có thể bổ sung từng bước.
Không nhất thiết nghĩa trang nào cũng có một mô hình giống nhau. Có nơi chỉ cần bảng thông tin và hoạt động học sinh chăm sóc định kỳ. Có nơi có thể xây dựng một phòng truyền thống nhỏ. Có nơi có điều kiện thì bổ sung dữ liệu số, mã QR, hệ thống thuyết minh, cây xanh, lối đi, không gian sinh hoạt cộng đồng. Điều quan trọng, theo ông, là không được làm theo phong trào. Mọi mô hình phải có cơ chế duy trì.
Từ nhận thức đến chính sách
Theo nhà sử học Dương Trung Quốc, muốn biến ý tưởng ấy thành hiện thực, trước hết phải có nhận thức mới. Cơ quan có thẩm quyền phải tạo thành chủ trương, ban hành chính sách. NTLS không chỉ là nơi an táng, không chỉ là công trình ghi công, mà còn là một thiết chế lưu giữ ký ức, giáo dục truyền thống và nuôi dưỡng đạo lý cộng đồng. Khi nhận thức được điều đó, mới có thể hình thành chủ trương, chính sách, phân công nhiệm vụ và cơ chế thực hiện.
“Ngành văn hóa làm gì, ngành giáo dục làm gì, đoàn thanh niên làm gì, hội cựu chiến binh làm gì, chính quyền địa phương làm gì, tất cả phải rõ”, ông đề xuất. Đây chính là điểm mấu chốt để đề xuất của Văn Hóa không chỉ dừng lại ở một ý tưởng nhân văn. Nếu muốn đi xa, cần có sự tham gia của các cơ quan quản lý người có công, ngành văn hóa, giáo dục, nội vụ, quốc phòng, đoàn thanh niên, hội cựu chiến binh, chính quyền cơ sở và cộng đồng dân cư. Về nguồn lực, nhà sử học Dương Trung Quốc cho rằng cần xã hội hóa nhưng phải đúng mực. Bởi việc chăm sóc, phát huy giá trị NTLS không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước, mà còn là đạo lý chung của xã hội. Doanh nghiệp có thể hỗ trợ cây xanh, chiếu sáng, bảng chỉ dẫn, đường đi, thiết bị số hóa. Người dân có thể đóng góp công sức. Gia đình liệt sĩ có thể cung cấp tư liệu, ảnh, kỷ vật. CCB có thể đóng góp ký ức và lời kể. Nhà trường, đoàn thanh niên có thể tổ chức hoạt động thường xuyên.
Như nhà sử học Dương Trung Quốc nhấn mạnh: “Chúng ta ai cũng có thể thấy rõ là lâu nay NTLS vẫn mang nặng sự khép kín, nhiều khoảng lặng. Thực tế ấy khiến chúng ta phải suy nghĩ cách quản lý, phát huy giá trị. Đó là vẫn giữ nguyên sự trang nghiêm, tôn kính, nhưng cần bổ sung thêm chức năng bảo tàng và giáo dục vào trong NTLS. Có như thế nơi đây mới trở thành “trường học lịch sử”, nơi thật sự gần gũi, lắng đọng với đời sống cộng đồng”. Đó cũng chính là bước chuyển cần thiết để từ một ý tưởng nhân văn có thể tiến tới một chính sách khả thi: Làm cho nơi yên nghỉ của những người đã hy sinh trở thành nơi đánh thức trách nhiệm của những người đang sống.
Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/doi-song/ky-4-truoc-het-can-co-nhung-nhan-thuc-moi-248824.html











