Để thủ tục hành chính không còn là điểm nghẽn - Bài 1: Khi doanh nghiệp vẫn 'mắc kẹt' giữa thủ tục
Những vấn đề phát sinh trong thực hiện thủ tục hành chính (TTHC) thời gian vừa qua cho thấy, 'điểm nghẽn' TTHC không nằm ở việc thiếu chủ trương hay thiếu quyết tâm cải cách, mà chủ yếu xuất phát từ cách thức tổ chức thực hiện. Nhiều chính sách được thiết kế với tinh thần tiến bộ, song khi triển khai lại chưa bám sát điều kiện thực tế của doanh nghiệp (DN) và người dân. Vậy làm cách nào để khắc phục tình trạng 'luật thì đúng mà làm thì khó'?
Cải cách TTHC nhiều năm qua đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và thúc đẩy phát triển kinh tế. Tuy nhiên, từ thực tiễn hoạt động của DN, đặc biệt là DN nhỏ và vừa vẫn còn không ít “điểm nghẽn” khiến chi phí tuân thủ gia tăng, thời gian bị kéo dài, cơ hội kinh doanh bị bỏ lỡ…
Quá ít thời gian thích nghi với quy định mới
Bà Cao Thị Thu Hiền, Giám đốc Công ty Kepler Logistics chia sẻ: “Với kinh nghiệm điều hành công ty logistics hơn chục năm nay, TTHC vẫn là một trong những thách thức lớn nhất với không những chúng tôi mà còn rất nhiều DN khác. Đặc biệt ở khâu hải quan và kiểm tra chuyên ngành - những lĩnh vực ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian giao hàng, chi phí và lòng tin của khách hàng”.
Một ví dụ điển hình là vừa qua, khi một loạt Nghị định ban hành áp dụng ngay mà chưa có thông tư hướng dẫn cụ thể, dẫn đến tình trạng gây hoang mang, khó khăn cho các DN làm dịch vụ logistics cũng như là khách hàng. Ví dụ như Luật Hóa chất số 69/2025/QH15 có hiệu lực từ 1/1/2026 nhưng đến ngày 17/1/2026 Bộ Công Thương mới có thông tư hướng dẫn; Luật Chất lượng hàng hóa (sửa đổi) tức là Luật số 78/2025/QH12 cũng đến ngày 19/1/2026 mới được hướng dẫn dù có hiệu lực từ ngày 1/1/2026; mới đây nhất là Nghị định 46/2026/NĐ-CP…
Ông Hoàng Đình Kiên, Giám đốc Công ty Tiếp vận Hòa Phát cũng cho biết, DN của ông đã gặp nhiều khó khăn về những quy định được ban hành mà thời gian để làm quen và chuyển đổi quá ngắn. Ví dụ mới đây, UBND TP Hà Nội đã đưa ra quy định về thời gian vận chuyển, áp dụng đối với các loại xe tải trong nội thành.
“Cụ thể, TP cấm xe tải dưới 2 tấn không được đi trong giờ cao điểm và xe từ 2 tấn trở lên chỉ được đi từ 9h tối đến 6h sáng và thông báo áp dụng sau 10 ngày. Tức là chúng tôi chỉ có 10 ngày để thực hiện thay đổi, điều chỉnh vận hành nhằm đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Khó khăn hơn nữa là quy định này được đưa ra vào đúng mùa cao điểm Tết khi nhu cầu khách hàng phải vận chuyển hàng hóa rất lớn”, ông Kiên chia sẻ.
Vì vậy, Công ty Tiếp vận Hòa Phát đã phải chuyển từ việc lưu thông, vận chuyển hàng hóa trong giai đoạn cận Tết từ thời điểm ban ngày sang ban đêm nên phải bố trí lại ca kíp rồi bố trí người lái xe ca đêm, ca ngày. Bên cạnh đó, DN phải ưu tiên về mặt tính chất hàng hóa, như các hàng hóa cấp thiết cấp yếu sẽ xin giấy phép để có thể được phép tạm thời lưu thông trong những giờ phù hợp. Còn đối với những hàng hóa phục vụ nhu cầu tiêu dùng thông thường thì tự bản thân DN sẽ phải điều chỉnh thời gian vận hành theo đúng quy định của UBND TP. Ông Kiên khẳng định, những quy định có hiệu lực trong thời gian ngắn sẽ khiến DN rất khó khăn để xoay xở bởi dù là DN lớn cũng vẫn bị động trong vấn đề phải đáp ứng được quy định mới.
Chưa thống nhất quy định giữa Bộ, ngành, địa phương
Bà Vũ Thị Phương, Tổng Giám đốc Công ty CP Xuất nhập khẩu tổng hợp I Việt Nam cho biết, sau khi tiến hành sáp nhập các Bộ, ngành và triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, việc thực hiện TTHC của DN có một số chuyển biến tích cực, như một số TTHC được quy định rõ về cơ quan chủ trì thực hiện giải quyết, giảm tình trạng DN phải làm việc với quá nhiều đơn vị như trước. Trường hợp TTHC phát sinh, DN có thể nhận được hướng dẫn chi tiết từ đầu mối quản lý và hạn chế tình trạng sách nhiễu, gây khó dễ cho DN.
Cùng với đó, quy trình xử lý có xu hướng rõ ràng hơn, trong đó, điểm mới khi thực hiện dịch vụ công đã thể hiện rõ ràng từng bước thực hiện để DN tiện theo dõi tình trạng hồ sơ. Ở một số lĩnh vực, hồ sơ được thực hiện hoàn toàn trên không gian mạng nên giảm lược được hồ sơ bản giấy và thời gian đi lại. Tại các Trung tâm Phục vụ hành chính công đã tích hợp hệ thống lấy số, phân loại yêu cầu điện tử để người dân/DN thuận tiện đặt lịch làm việc và sắp xếp kế hoạch.
Tuy nhiên, bà Phương cho rằng, khó khăn liên quan đến TTHC là vấn đề đòi hỏi khả năng thích ứng cao độ của DN. Bà Phương dẫn chứng, một số quy định giữa các Bộ, ngành chưa thống nhất, dẫn đến DN gặp khó khăn khi triển khai công việc theo luật định.
Đơn cử như việc triển khai hồ sơ tại Trung tâm Phục vụ hành chính công đối với thủ tục trong lĩnh vực đất đai, theo quy định chỉ cần nộp tờ khai theo biểu mẫu và bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, thực tế có nơi khi nộp hồ sơ cần phải cung cấp thêm các văn bản tài liệu liên quan như bản sao Căn cước công dân (trong thời hạn 6 tháng), đăng ký DN và/hoặc các xác nhận khác theo yêu cầu từ bộ phận tiếp nhận hồ sơ.
Bên cạnh đó, thời gian giải quyết TTHC đã được quy định cụ thể theo luật định, nhưng thực tế do các yếu tố như thực hiện chủ trương tinh giản bộ máy, khối lượng hồ sơ bị dồn gây quá tải, cơ sở vật chất chưa đáp ứng yêu cầu công việc dẫn tới thời gian trả kết quả TTHC bị kéo dài hơn so với thời gian luật định ở một số lĩnh vực như DN, đất đai... “Việc kéo dài TTHC làm phát sinh chi phí quản lý, cơ hội, chi phí nhân sự theo dõi hồ sơ, ảnh hưởng đến tiến độ và kế hoạch kinh doanh của DN”, bà Phương nói.
Ông Hoàng Đình Kiên cũng cho rằng, nhiều loại giấy tờ như căn cước công dân, giấy chứng nhận đăng ký DN, giấy phép đầu tư… đều do Nhà nước cấp và lưu trữ trong hệ thống dữ liệu quốc gia, nhưng khi làm TTHC, DN vẫn phải cung cấp lại. Việc này không chỉ gây phiền hà mà còn đi ngược tinh thần chuyển đổi số. Theo ông Kiên, khi số hóa đã được thúc đẩy ở mức khá tốt, thì cần mạnh dạn điều chỉnh các thông tư, nghị định để phù hợp với thực tiễn mới, giảm tối đa việc yêu cầu DN nộp lại những giấy tờ mà cơ quan quản lý đã có sẵn.
Tạm ngưng hiệu lực và điều chỉnh thời hạn áp dụng Nghị định số 46/2026/NĐ-CP
Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 09/2026/NQ-CP về việc tạm ngưng hiệu lực và điều chỉnh thời hạn áp dụng Nghị định số 46/2026/NĐ-CP ngày 26/1/2026 quy định chi tiết thi hành một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm và Nghị quyết số 66.13/2026/NQ-CP ngày 27/1/2026 quy định về công bố, đăng ký sản phẩm thực phẩm.
Cụ thể, Chính phủ quyết nghị tạm ngưng hiệu lực áp dụng Nghị định số 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết số 66.13/2026/NQ-CP cho đến hết ngày 15/4/2026; các văn bản này sẽ tiếp tục có hiệu lực từ ngày 16/4/2026.
Trong thời gian tạm ngưng hiệu lực như nêu trên, Nghị định số 15/2018/NĐ-CP ngày 2/2/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm và các văn bản quy định, hướng dẫn thi hành Nghị định này tiếp tục có hiệu lực.
Trước ngày 16/4/2026, các Bộ: Y tế, Nông nghiệp và Môi trường, Công Thương, Tài chính, các Bộ, cơ quan liên quan, UBND các cấp chịu trách nhiệm bảo đảm đầy đủ các điều kiện cần thiết thực hiện Nghị định số 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết số 66.13/2026/NQ-CP.
T.Quyên – Gia Hồng
Ông Hoàng Đình Kiên, Giám đốc Công ty Tiếp vận Hòa Phát: Cần nghiên cứu thời điểm áp dụng phù hợp với điều kiện thực tế

Ông Hoàng Đình Kiên.
“Để bảo đảm theo được quy định của UBND TP Hà Nội, chúng tôi phải chuyển sang hoạt động ca đêm, điều này sẽ phát sinh rất nhiều. Vấn đề đầu tiên là chi phí chắc chắn là tăng, bởi sẽ phải gia tăng chi phí về mặt lao động, chi phí về điều chỉnh lại luồng, tuyến hàng hóa, làm việc với kho trả hàng… Tất cả một chu trình như vậy sẽ phải thay đổi và khi thay đổi thì dẫn đến tình trạng không thể tối ưu hoạt động như vốn dĩ chúng tôi đã vận hành.
Việc thay đổi thời gian vận chuyển rõ ràng là chưa bao giờ được hai bên tính đến, do đó, chúng tôi mong muốn khi Bộ, ban, ngành địa phương khi ban hành bất kỳ một quy định nào mới cần phải có thời gian để DN cũng như người dân tiếp nhận và lên lộ trình sửa đổi theo quy định đó”.
Bà Cao Thị Thu Hiền, Giám đốc Công ty Kepler Logistics: Sớm triển khai thực hiện đồng nhất các TTHC trên phạm vi cả nước

Bà Cao Thị Thu Hiền.
“Khi thẩm quyền thực hiện TTHC được điều chỉnh, sắp xếp lại, cán bộ ở một số nơi còn lúng túng trong việc xác định trách nhiệm, dẫn tới tâm lý thận trọng, xử lý hồ sơ chậm hơn so với trước. Bên cạnh đó, khối lượng công việc tăng lên, trong khi nhân lực chưa được bổ sung kịp thời cũng là nguyên nhân khiến tiến độ giải quyết thủ tục bị ảnh hưởng. Đây là những “độ trễ” cần được nhìn nhận một cách thẳng thắn để có giải pháp phù hợp. Chúng tôi mong muốn quá trình hoàn thiện mô hình mới đi kèm với việc ban hành hướng dẫn thống nhất từ các cấp, ban, ngành quản lý nhà nước; Triển khai thực hiện đồng nhất các TTHC trên phạm vi cả nước; Giảm tải các quy định riêng của từng địa phương liên quan đến TTHC, đặc biệt ở các cơ quan Hải quan”.
Bà Vũ Thị Phương, Tổng Giám đốc Công ty CP Xuất nhập khẩu tổng hợp I Việt Nam: Khó khăn trong thực hiện TTHC làm gia tăng chi phí tuân thủ

Bà Vũ Thị Phương.
“Sau khi tiến hành sáp nhập các Bộ, ngành và triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, việc thực hiện TTHC của DN có một số chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, vẫn tồn tại không ít khó khăn, vướng mắc như hệ thống dịch vụ công chưa thực sự liên thông khi dữ liệu giữa các cấp, các ngành chưa kết nối, chia sẻ đầy đủ. Điều này khiến gia tăng chi phí tuân thủ của DN”.
(Còn tiếp)












