Để vận hành Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia từ năm 2027

Số hóa đang mở ra cách thức mới để lưu giữ và khai thác các tư liệu, hiện vật, di sản văn hóa. Nhưng để nguồn dữ liệu ấy thực sự có giá trị lâu dài, cần chuẩn hóa, xác thực, kết nối và tổ chức thành cơ sở dữ liệu thống nhất, phục vụ bảo tồn, nghiên cứu, giáo dục và phát huy giá trị văn hóa.

Biểu diễn nghệ thuật với sự hỗ trợ của công nghệ số. Ảnh: Phạm Sỹ

Biểu diễn nghệ thuật với sự hỗ trợ của công nghệ số. Ảnh: Phạm Sỹ

Yêu cầu rà soát, thống kê dữ liệu văn hóa

Vừa qua, Bộ VHTTDL đã ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị định số 277/2026/NĐ-CP ngày 9/7/2026 của Chính phủ về Hạ tầng văn hóa số, giai đoạn 2026 - 2027. Kế hoạch được ban hành nhằm hình thành hạ tầng văn hóa số của ngành theo hướng đồng bộ, liên thông, dùng chung; từng bước thiết lập và đưa vào vận hành Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia và các nền tảng số dùng chung quy mô quốc gia trong lĩnh vực văn hóa. Đồng thời, bảo đảm tiến độ, thời gian thực hiện hoàn thành kết nối, liên thông với Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia đối với các hoạt động, dự án đã triển khai trước ngày 30/10/2026; tạo cơ chế để thu hút đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển sản phẩm, dịch vụ văn hóa số, góp phần hình thành mạng lưới trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa.

Theo đó, Bộ VHTTDL đặt mục tiêu đến hết năm 2027: 100% các hoạt động, dự án về dữ liệu văn hóa số đã triển khai trước ngày Nghị định có hiệu lực hoàn thành kết nối, liên thông với Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia trước ngày 30/10/2026. Ban hành Kế hoạch tạo lập, chuẩn hóa dữ liệu văn hóa số và lộ trình kết nối vào Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia trước ngày 9/7/2027; 100% cơ quan, đơn vị thuộc Bộ có dữ liệu văn hóa số hoàn thành rà soát, lập danh mục dữ liệu thuộc phạm vi quản lý.

Để đạt mục tiêu đã đặt ra, Bộ VHTTDL yêu cầu các địa phương tổ chức rà soát, thống kê, chuẩn hóa và số hóa dữ liệu văn hóa; xây dựng danh mục dữ liệu, hệ thống dữ liệu đặc tả, từ điển dữ liệu dùng chung, mã định danh đối tượng và các tiêu chuẩn, quy chuẩn phục vụ quản lý, chia sẻ, khai thác dữ liệu thống nhất trong toàn ngành.

Từ số hóa đến chuẩn hóa dữ liệu văn hóa

Theo ghi nhận, mặc dù công tác số hóa đã được triển khai ở nhiều địa phương, song thực tế cho thấy quá trình này vẫn còn không ít hạn chế. Hiện nay, việc số hóa di sản ở nhiều nơi chủ yếu dừng lại ở khâu sưu tầm, lưu trữ, lập hồ sơ hoặc xây dựng các cơ sở dữ liệu riêng lẻ… nhiều vấn đề nền tảng vẫn chưa được giải quyết đồng bộ.

GS.TS Từ Thị Loan - Viện trưởng Viện nghiên cứu văn hóa Thăng Long cho rằng, rào cản lớn nhất hiện nay không phải là thiếu di sản, thiếu dữ liệu hay thiếu tiềm năng sáng tạo, mà là chưa hình thành được một hệ sinh thái đủ hoàn chỉnh để chuyển hóa di sản từ giá trị văn hóa thành dữ liệu, từ dữ liệu thành tri thức, từ tri thức thành tài sản trí tuệ và từ tài sản trí tuệ thành sản phẩm, dịch vụ có giá trị kinh tế.

Theo ông Phạm Hữu Quang, Phó Trưởng ban Truyền thông Hiệp hội Dữ liệu quốc gia, Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Thông tin UNESCO, các nhóm dữ liệu cần được số hóa như tài liệu lịch sử, văn kiện, sách, phim tư liệu, di sản phi vật thể, tiếng nói, chữ viết, âm nhạc dân gian, mỹ thuật, kiến trúc... Nguồn dữ liệu này có thể phục vụ lưu trữ, giáo dục, nghiên cứu, sáng tạo và phát triển sản phẩm văn hóa mới. Nhưng nếu mỗi bảo tàng, thư viện, địa phương hay cơ quan nghiên cứu lưu giữ theo một cách khác nhau, dữ liệu sẽ khó kết nối và khai thác thống nhất.

Điều này, đặt ra vấn đề xây dựng cơ sở dữ liệu văn hóa cần được thực hiện theo một quy trình thống nhất: Chuẩn hóa tư liệu, xác định nguồn gốc, bảo vệ bản quyền, cập nhật thường xuyên và kết nối giữa các thiết chế văn hóa, cơ quan nghiên cứu, địa phương và cộng đồng sở hữu di sản. Khi đó, số hóa sẽ không chỉ dừng lại ở việc lưu giữ quá khứ, mà thực sự có giá trị thành dữ liệu dùng chung, và trở thành động lực để phát triển văn hóa với tâm thế chủ động, sáng tạo.

Dung Hòa

Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/de-van-hanh-kho-du-lieu-van-hoa-so-quoc-gia-tu-nam-2027.html