Để văn hóa tạo ra giá trị mới

Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng sẽ trình Quốc hội xem xét tại Kỳ họp thứ 2, tháng 10/2026. Đây là dấu mốc có ý nghĩa, bởi lần đầu tiên công nghiệp văn hóa được đặt trong một khuôn khổ pháp lý riêng với mục tiêu hình thành hệ sinh thái sáng tạo để văn hóa thực sự trở thành một ngành kinh tế có sức cạnh tranh.

Nhiều giá trị truyền thống hiện nay đã bắt đầu bước ra khỏi không gian bảo tồn để đi vào đời sống.

Nhiều giá trị truyền thống hiện nay đã bắt đầu bước ra khỏi không gian bảo tồn để đi vào đời sống.

Từ bảo tồn tới khai thác sang tái sinh vốn văn hóa

Dự thảo hiện đã đặt vấn đề về hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, tài sản trí tuệ, thị trường và các chính sách hỗ trợ. Thiển nghĩ, một trong những vấn đề cần được quan tâm khi hoàn thiện Dự thảo Luật là làm thế nào để biến nguồn vốn văn hóa của dân tộc thành nguồn lực sáng tạo của xã hội, đồng thời bảo đảm những người sáng tạo và cộng đồng sở hữu, thực hành văn hóa được hưởng lợi một cách công bằng từ quá trình đó.

Nhiều giá trị truyền thống hiện nay đã bắt đầu bước ra khỏi không gian bảo tồn để đi vào đời sống, trên cả hai phương diện “khai thác” và “tái sinh”. “Khai thác” văn hóa là tạo ra doanh thu trong ngắn hạn. Khi chu trình phát triển  từ văn hóa tới sản phẩm, rồi doanh thu, đó mới chỉ là “khai thác”. Còn nếu chu trình từ văn hóa tới sản phẩm, rồi có doanh thu, nghệ sĩ, hoặc cộng đồng được hưởng lợi sẽ góp phần vào việc bảo tồn, truyền dạy tiếp tục sáng tạo, thì mới thực sự là “tái sinh” vốn văn hóa. Chẳng hạn, một làn điệu dân ca được nghệ sĩ sáng tạo thành ca khúc mới có đông đảo công chúng tiếp nhận, sẽ tạo thị trường, nghệ sĩ, cộng đồng và chính di sản có thêm nguồn lực tài chính. Như vậy, giá trị truyền thống được “tái sinh”- sống thêm một đời sống mới.

 Vì thế Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa cần thể hiện nổi bật ý tưởng khuyến khích sáng tạo; nguồn nguyên liệu văn hóa là “có chủ”. Khi một nghệ sĩ, nhà thiết kế hay doanh nghiệp sử dụng làn điệu dân gian; hoa văn truyền thống; tri thức cộng đồng; hình ảnh di sản; chất liệu của các dân tộc… câu hỏi là: Ai có quyền khai thác? Có cần xin phép không? Ai được hưởng lợi? Làm thế nào để tránh bóp méo hoặc sử dụng thiếu tôn trọng vốn văn hóa đó? Đây chính là điểm Luật cần tạo ra ranh giới hợp lý giữa tự do sáng tạo và trách nhiệm văn hóa.

Nên xây dựng hạ tầng dữ liệu văn hóa

Một trong những điểm đáng chú ý của Chương V Dự thảo Luật là Điều 29 về “Hạ tầng văn hóa số”. Điều này đã xác định hạ tầng dữ liệu văn hóa số là một cấu phần cốt lõi, bao gồm kho dữ liệu văn hóa số quốc gia, các cơ sở dữ liệu về văn hóa cùng những nền tảng và công cụ phục vụ kết nối, chia sẻ, khai thác dữ liệu. Điều 55 tiếp tục đặt vấn đề xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về phát triển công nghiệp văn hóa, trong đó có dữ liệu di sản văn hóa đã được số hóa phục vụ sáng tạo và thương mại, dữ liệu về tài sản trí tuệ, biểu tượng văn hóa, nhân lực, sản phẩm, dịch vụ, không gian sáng tạo và các chính sách hỗ trợ…

 Đây là những nền tảng quan trọng. Nhưng nếu Luật chỉ dừng ở việc hỗ trợ nghệ sĩ, doanh nghiệp sáng tạo về vốn, thị trường hay cơ sở vật chất thì chưa giải quyết thấu đáo được vấn đề căn bản là, người sáng tạo lấy “nguyên liệu văn hóa” ở đâu, với độ tin cậy như thế nào?

Nước ta có một kho tàng lớn về di sản vật thể và phi vật thể, từ kiến trúc, mỹ thuật, trang phục, hoa văn, lễ hội, âm nhạc, dân ca, trò diễn dân gian đến truyện kể, huyền tích, tri thức dân gian… Nhưng những dữ liệu này hiện còn phân tán ở nhiều cơ quan, bảo tàng, thư viện, địa phương, công trình nghiên cứu và cộng đồng.

Thiết nghĩ, Dự thảo Luật cần làm rõ hơn định hướng xây dựng “Hạ tầng dữ liệu văn hóa” dùng chung - có thể hình dung đó như một “kho dữ liệu văn hóa quốc gia” được tổ chức thống nhất, được thiết kế trước hết phục vụ nhu cầu của người sáng tạo.  Mỗi di sản có thể xây dựng thành một “hồ sơ dữ liệu văn hóa” với các thông tin về nguồn gốc, lịch sử, không gian văn hóa, đặc điểm nhận diện, tình trạng bảo tồn, chủ thể thực hành và các quy định liên quan đến quyền sử dụng. Cần phân biệt rõ giữa dữ liệu được tiếp cận và dữ liệu được phép khai thác thương mại; giữa những gì có thể sử dụng tự do cho sáng tạo với những gì cần xin phép hoặc chia sẻ lợi ích với chủ thể văn hóa.

Khi đó, nhà sáng tạo không chỉ tìm được chất liệu mà còn biết có thể sử dụng chất liệu ấy như thế nào, đến đâu và phải tôn trọng những giới hạn nào. Đây cũng là cách hạn chế tình trạng nghệ sĩ hoặc doanh nghiệp lấy thông tin trôi nổi trên mạng rồi vô tình sử dụng sai, pha tạp hoặc làm biến dạng giá trị gốc.

Khi văn hóa tạo ra tiền, cộng đồng phải được hưởng lợi

Giả sử một làn điệu dân ca được một nghệ sĩ sử dụng để phối khí mới, trở thành một ca khúc nổi tiếng, phát hành trên nền tảng số và tạo ra doanh thu bản quyền; hoặc được sử dụng trong hòa nhạc, quảng cáo, thời trang, du lịch hay sản phẩm lưu niệm… thì giá trị kinh tế có thể tăng lên nhiều lần. Vậy người nghệ nhân từng gìn giữ làn điệu ấy; cộng đồng đã bảo tồn nó qua nhiều thế hệ có được hưởng lợi không? Một phần nguồn lực tài chính tạo ra từ việc khai thác giá trị ấy có trả lại để phục vụ cho việc truyền dạy và bảo tồn không? Vì vậy, cần có cơ chế để xác định hợp lý quyền, trách nhiệm và lợi ích của các bên. Như vậy thị trường văn hóa có thể trở thành một nguồn lực cho bảo tồn.

Đăng Ngọc

Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/de-van-hoa-tao-ra-gia-tri-moi.html