Để vùng đất bãi nở hoa - Hướng tới hành lang kinh tế xanh

Buổi sớm, khi những tia nắng đầu tiên còn đang loang nhẹ trên mặt nước, vùng bãi bồi ven sông Hồng, sông Ninh Cơ, sông Hoàng Long… hiện lên như một tấm thảm trải dài xanh mướt. Những vườn cây trĩu quả, những ao nuôi thủy sản, những cánh đồng hoa… nối tiếp nhau tạo nên bức tranh trù phú của vùng đất được phù sa bồi đắp qua bao thế hệ.

Buổi sớm, khi những tia nắng đầu tiên còn đang loang nhẹ trên mặt nước, vùng bãi bồi ven sông Hồng, sông Ninh Cơ, sông Hoàng Long… hiện lên như một tấm thảm trải dài xanh mướt. Những vườn cây trĩu quả, những ao nuôi thủy sản, những cánh đồng hoa… nối tiếp nhau tạo nên bức tranh trù phú của vùng đất được phù sa bồi đắp qua bao thế hệ.

Từ lâu, các vùng bãi bồi ven sông đã trở thành nguồn sinh kế quan trọng của người dân địa phương. Lớp phù sa màu mỡ được bồi đắp qua từng mùa nước nổi tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, hình thành nhiều mô hình kinh tế có giá trị cao.

Từ triền đê nhìn xuống vùng đất ven sông thuộc phường Thiên Trường, những ruộng hoa nổi lên như một bức tranh lớn với các mảng màu rực rỡ đan xen. Toàn phường hiện có trên 1.350 hộ dân tham gia trồng hoa với diện tích khoảng 250 ha, giá trị thu nhập đạt khoảng 650 triệu đồng/ha/năm. Nhiều hộ dân có thu nhập hàng tỷ đồng mỗi năm nhờ phát triển sản xuất quy mô lớn. Không chỉ tạo sinh kế cho người dân, nghề trồng hoa còn góp phần làm thay đổi diện mạo nông thôn. Những con đường được bê tông hóa, những ngôi nhà mới khang trang mọc lên ngày càng nhiều từ nguồn thu của nghề trồng hoa.

Cũng được bồi đắp bởi dòng sông Hồng đỏ nặng phù sa, phường Vị Khê từ lâu nổi tiếng với nghề trồng hoa, cây cảnh truyền thống. Trên những vùng đất bãi ven sông, các loại cây công trình, cây cảnh, cỏ trang trí được sản xuất quanh năm, tạo việc làm thường xuyên cho hàng nghìn lao động.

Trên vùng đất bãi ven sông, người dân phường Thiên Trường, phường Vị Khê phát triển nghề trồng hoa đem lại thu nhập cao.

Trên vùng đất bãi ven sông, người dân phường Thiên Trường, phường Vị Khê phát triển nghề trồng hoa đem lại thu nhập cao.

Bà An Liên, một hộ sản xuất cây cảnh tại địa phương cho biết, nhờ tận dụng lợi thế đất phù sa màu mỡ cùng việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, các loại cây thế, bonsai và cây cảnh truyền thống của gia đình luôn có đầu ra ổn định, tạo việc làm thường xuyên cho 10 lao động địa phương.

Là một lao động phổ thông, bà Trần Thị Hà, ngoài 60 tuổi, hiện vẫn đều đặn gắn bó với công việc trồng cỏ thuê. Với mức thu nhập khoảng 200 nghìn đồng/ngày công, công việc này giúp bà có thêm thu nhập ổn định, chủ động cuộc sống tuổi già.

Ông Nguyễn Công Khanh, chủ tịch Hội Sinh vật cảnh phường Vị Khê cho biết, với lợi thế là vùng đất bồi màu mỡ ven sông, đến nay phường có khoảng 3.000 hộ trồng, kinh doanh cây cảnh. Từ một nghề truyền thống, cây cảnh đã trở thành ngành kinh tế chủ lực, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.

Không chỉ có hoa và cây cảnh, vùng bãi ven sông Châu đã tạo nên thương hiệu nổi tiếng cho chuối ngự Đại Hoàng. Nhờ điều kiện đất phù sa pha cát đặc trưng, chuối ngự nơi đây có hương vị thơm ngon riêng biệt, được người tiêu dùng ưa chuộng. Theo UBND xã Nam Lý, nghề trồng chuối ngự ở làng Đại Hoàng đã mang lại doanh thu khoảng 2,5 tỉ đồng, trừ chi phí như phân bón và nhân công chăm sóc thì lãi còn trên 1,5 tỉ đồng/năm. Hiện sản phẩm đã được cấp chứng nhận chỉ dẫn địa lý, đạt tiêu chuẩn VietGAP và OCOP.

Nhờ cây chuối "đặc sản", nhiều hộ dân ở làng Đại Hoàng đã có cuộc sống ấm no.

Nhờ cây chuối "đặc sản", nhiều hộ dân ở làng Đại Hoàng đã có cuộc sống ấm no.

Ông Trần Đình Ngà ở làng Đại Hoàng đã có hơn 40 năm trồng và thu mua chuối. Ông cho biết, chuối ngự là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều so với các loại cây trồng khác. Gia đình ông đã có cuộc sống khá giả nhờ phát triển loại cây đặc sản này. Những năm gần đây, cây chuối đã được mở rộng ra nhiều khu vực tại địa phương với khoảng hơn 50 ha tại vùng xã Hòa Hậu (cũ) và xã Tiến Thắng (cũ), tạo sinh kế bền vững cho người dân địa phương.

Cùng với trồng trọt, nghề nuôi cá lồng cũng đang phát triển mạnh. Theo thống kê, chỉ tính riêng dọc bãi sông Hồng (khu vực Hà Nam cũ) có gần 600 lồng nuôi cá được nuôi tập trung vùng ven sông thuộc địa bàn các xã: Nam Lý, Trần Thương và phường Duy Tiên. Sản lượng cá lồng mỗi năm đạt từ 3.000 - 3.500 tấn. Gia đình anh Trần Quang Huy ở phường Duy Tiên hiện đầu tư 70 lồng nuôi các loại cá đặc sản như cá lăng, chép giòn, rô phi đơn tính. Nhờ tận dụng nguồn nước sông Hồng, mô hình này mang lại hiệu quả kinh tế cao gấp nhiều lần so với nuôi ao truyền thống. Trung bình khoảng 14 tháng/1 lứa, mỗi lồng có thể nuôi từ 9 đến 10 tấn, lợi nhuận cao gấp ba, bốn lần nuôi trong ao.

Những mô hình sản xuất hiệu quả từ hoa, cây cảnh, cây đặc sản đến nuôi trồng thủy sản đã cho thấy tiềm năng to lớn của vùng đất bãi ven sông. Tuy nhiên, đó mới chỉ là một phần trong bức tranh phát triển của khu vực bãi bồi được thiên nhiên ưu đãi này. Mặc dù sở hữu diện tích đất bãi lớn cùng hệ sinh thái sông ngòi phong phú, song việc khai thác lợi thế ở các vùng bãi ven sông hiện vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.

Hiện nay, phần lớn hoạt động sản xuất tại các vùng bãi vẫn mang tính nhỏ lẻ, phân tán. Các mô hình hiệu quả chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của người dân, chưa hình thành được nhiều vùng sản xuất quy mô lớn có sự tham gia sâu của doanh nghiệp. Việc tích tụ, tập trung đất đai còn gặp khó khăn; liên kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm chưa thật chặt chẽ. Bên cạnh đó, hạ tầng phục vụ sản xuất tại một số khu vực đất bãi chưa đồng bộ; hệ thống giao thông kết nối, điện sản xuất, công trình thủy lợi còn hạn chế. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng mở rộng sản xuất và thu hút đầu tư.

Mô hình nuôi cá lồng trên sông đã phát huy được hiệu quả, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân vùng bãi.

Mô hình nuôi cá lồng trên sông đã phát huy được hiệu quả, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân vùng bãi.

Đối với nuôi trồng thủy sản, mặc dù mang lại giá trị kinh tế cao nhưng người nuôi vẫn đối mặt với nhiều rủi ro từ thiên tai, biến động môi trường nước, dịch bệnh và thị trường tiêu thụ. Vào mùa mưa bão, việc bảo đảm an toàn cho hệ thống lồng bè luôn là nỗi lo thường trực của người dân. Bên cạnh đó, việc nuôi vẫn chủ yếu theo hướng tự phát, chưa gắn với bảo vệ môi trường, dễ bị ảnh hưởng bởi thiên tai. Nhiều đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế cao vẫn chưa chủ động được nguồn giống sản xuất nhân tạo.

Tiêu biểu như ở xã Đồng Thịnh, với diện tích hơn 10 km giáp sông Đào và sông Đáy, nguồn nước lưu thông quanh năm, mặt nước rộng, đây được xác định là điều kiện thuận lợi để phát triển mô hình nuôi cá lồng trên sông theo hướng tập trung, quy mô lớn. Tuy nhiên, do sông Đào chịu ảnh hưởng từ nguồn nước thượng lưu và nước thải sinh hoạt, sản xuất. Khi thời tiết thay đổi đột ngột (nắng nóng, mưa lớn), môi trường nước dễ bị thiếu oxy, phát sinh khí độc khiến cá bị ảnh hưởng. Vào mùa mưa bão, lưu tốc dòng chảy tăng mạnh, có thể làm đứt neo, vỡ lồng, gây thiệt hại cho người nuôi trồng. Việc tiếp cận nguồn vốn từ ngân hàng cũng còn khó khăn bởi lồng bè trên sông không đủ cơ sở pháp lý để đem ra thế chấp vay vốn, ảnh hưởng đến việc đầu tư.

Anh Hoàng Văn Cương, xã Đồng Thịnh cho biết, hiện gia đình anh đầu tư 6 lồng cá trên sông. Mặc dù lợi nhuận cao gấp nhiều lần nuôi ao truyền thống nhưng nghề nuôi cá lồng vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro từ thiên tai, biến động môi trường nước và thị trường tiêu thụ. Người nuôi phải thường xuyên theo dõi chất lượng nguồn nước, gia cố lồng bè mỗi khi mùa mưa bão đến.

Cùng với phát triển kinh tế hàng hóa, các vùng bãi ven sông sở hữu cảnh quan đẹp cùng hệ sinh thái tự nhiên phong phú nhưng việc khai thác du lịch sinh thái, du lịch trải nghiệm ven sông vẫn còn khá khiêm tốn. Nhiều vùng đất bãi hiện mới dừng lại ở chức năng sản xuất nông nghiệp, trồng cây cảnh truyền thống, chưa phát huy hết giá trị cảnh quan và văn hóa bản địa.

Ông Nguyễn Công Khanh, Chủ tịch Hội Sinh vật cảnh phường Vị Khê.

Ông Nguyễn Công Khanh, Chủ tịch Hội Sinh vật cảnh phường Vị Khê.

Ông Nguyễn Công Khanh, Chủ tịch Hội sinh vật cảnh phường Vị Khê cho biết, hiện nay các nhà vườn ở Vị Khê đều rất mong muốn phát triển thêm dịch vụ du lịch. Với một làng nghề có lịch sử hình thành hơn 800 năm, đã có rất nhiều nghệ nhân, tác giả của không biết bao nhiêu tác phẩm cây cảnh đang được trưng bày, mỗi nghệ nhân, mỗi tác phẩm lại có một câu chuyện riêng, cảnh quan, môi trường sạch đẹp, đậm nét sinh thái, giao thông đi lại bằng đường bộ, đường thủy đều thuận tiện, phường Vị Khê có đủ sức hút, giữ chân du khách và hoàn toàn có thể phát triển trở thành một địa chỉ du lịch cộng đồng.

Tuy nhiên, theo ông Khanh, mong muốn này của người dân địa phương đang vấp phải trở ngại. Đó là, đất của các nhà vườn hiện nay đều là đất nông nghiệp. Trong khi muốn kết hợp làm du lịch thì tối thiểu các nhà vườn cũng phải xây dựng thêm các công trình, hạng mục để phục vụ một số nhu cầu thiết yếu của du khách như ăn uống, lưu trú; chính quyền địa phương cũng cần đầu tư xây dựng bãi đỗ xe, có phương án, lực lượng đảm bảo an ninh trật tự. Nhưng nếu xây dựng các công trình trên đất nông nghiệp thì chủ các nhà vườn lại vi phạm pháp luật. Do vậy, đến giờ không có nhà vườn nào dám bỏ tiền đầu tư.

Trong khi thực tế, những năm gần đây, làng vẫn được đón các đoàn khách du lịch đến tham quan, rất nhiều đoàn khách là người nước ngoài. Nhưng ngoài những tác phẩm cây cảnh, vẻ đẹp cảnh quan, địa phương không có dịch vụ nào đi kèm. Địa phương mong muốn những vướng mắc trên sớm được tháo gỡ, để mở hướng phát triển mới cho làng nghề.

Nghề trồng cây cảnh truyền thống đã giúp người dân phường Vị Khê có nhà cửa khang trang và đóng góp xây dựng các công trình phúc lợi của địa phương.

Nghề trồng cây cảnh truyền thống đã giúp người dân phường Vị Khê có nhà cửa khang trang và đóng góp xây dựng các công trình phúc lợi của địa phương.

Thực tế phát triển trên cho thấy vùng đất bãi ven sông vẫn còn nhiều dư địa để phát triển nếu được quy hoạch đồng bộ và có hướng khai thác phù hợp.

Trong chiến lược phát triển giai đoạn mới, Ninh Bình đang từng bước chuyển từ tư duy khai thác đơn giá trị sang phát triển đa giá trị đối với các vùng đất bãi ven sông.

Một trong những định hướng quan trọng là nghiên cứu quy hoạch không gian kiến trúc, cảnh quan hai bên bờ sông Đáy. Với vai trò là tuyến kết nối giữa các khu vực đô thị, sản xuất nông nghiệp, dịch vụ và du lịch, trong đó, sông Đáy được kỳ vọng trở thành trục phát triển mới, góp phần mở rộng không gian kinh tế của tỉnh.

Theo định hướng quy hoạch, khu vực ven sông Đáy sẽ từng bước hình thành các không gian cảnh quan sinh thái, hệ thống giao thông kết nối, các khu dịch vụ, du lịch và vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. Đây không chỉ là giải pháp khai thác hiệu quả quỹ đất ven sông mà còn góp phần nâng cao chất lượng môi trường sống, tạo động lực thu hút đầu tư trong tương lai.

Với quy mô nghiên cứu 6.670,67ha, phạm vi nghiên cứu lập quy hoạch tại phía bờ Tây và bờ Đông sông Đáy, Sông Đáy sẽ trở thành đại lộ sinh thái - văn hóa - kinh tế của tỉnh, kết nối đô thị, nông nghiệp, công nghiệp, thủy sản, du lịch bằng một hệ thống không gian mở liên tục hai bờ. Quy hoạch được kỳ vọng giúp tăng chất lượng sống; thu hút đầu tư, cân bằng kinh tế - sinh thái; giảm rủi ro ngập lụt; tăng nhận diện đô thị vùng; hình thành bản sắc Ninh Bình.

Trong Kế hoạch phát triển thủy sản đến năm 2030 của UBND tỉnh cũng nêu rõ: đây là bước đi chiến lược nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng mặt nước, bảo vệ nguồn lợi, phát triển nuôi trồng, khai thác theo hướng hiện đại, bền vững, phù hợp bối cảnh biến đổi khí hậu và yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Theo đó, tỉnh yêu cầu các sở, ngành, địa phương phối hợp chặt chẽ trong triển khai nhiệm vụ; tăng cường quan trắc môi trường, cảnh báo dịch bệnh; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và tạo sự đồng thuận của cộng đồng trong thực thi pháp luật về thủy sản; hoàn thiện công tác điều tra nguồn lợi tại vùng ven bờ, sông, hồ theo chu kỳ 5 năm.

Từ kết quả khảo sát, tỉnh sẽ xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành, phục vụ quản lý, hoạch định chính sách và quy hoạch vùng nuôi; phân loại, phục hồi và phát triển các loài thủy sản bản địa, giá trị cao như: cá trầu tiến vua, cá bò vàng, cá lăng, cá dầm xanh, cá bống bớp... gắn với phát triển thương hiệu đặc sản, thúc đẩy du lịch và ẩm thực địa phương. Đáng chú ý, Ninh Bình triển khai Quỹ Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản để huy động nguồn lực xã hội hóa cho bảo tồn; đồng thời tăng cường đối thoại giữa cơ quan quản lý - doanh nghiệp người dân để nâng cao hiệu quả giám sát, tuân thủ pháp luật và chia sẻ lợi ích.

Từ vùng bãi bồi ven sông, nhiều hộ dân đã mạnh dạn đầu tư vào sản xuất nông nghiệp cao đem lại hiệu quả kinh tế và việc làm cho người dân trong vùng.

Từ vùng bãi bồi ven sông, nhiều hộ dân đã mạnh dạn đầu tư vào sản xuất nông nghiệp cao đem lại hiệu quả kinh tế và việc làm cho người dân trong vùng.

Bám sát định hướng chỉ đạo của tỉnh, ngành nông nghiệp tỉnh cũng đang đẩy mạnh cơ cấu lại sản xuất theo hướng hiện đại, bền vững; khuyến khích phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn gắn với chuyển đổi số và thích ứng biến đổi khí hậu. Trong đó, vùng đất bãi ven sông, ngành định hướng xây dựng các vùng sản xuất tập trung, phát triển các sản phẩm chủ lực có lợi thế cạnh tranh, tăng cường liên kết theo chuỗi giá trị và mở rộng các mô hình nông nghiệp kết hợp du lịch trải nghiệm.

Không chỉ là nơi sản xuất nông nghiệp, những vùng đất ven sông trong tương lai còn được kỳ vọng trở thành không gian phát triển kinh tế sinh thái, nơi hài hòa giữa bảo tồn cảnh quan, bảo vệ môi trường và nâng cao giá trị sử dụng đất. Khi những điểm nghẽn về hạ tầng, quy hoạch và liên kết sản xuất từng bước được tháo gỡ; khi các dự án phát triển không gian ven sông được triển khai đồng bộ; khi nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế sinh thái và du lịch trải nghiệm được phát huy đúng tiềm năng, những vùng đất được phù sa bồi đắp sẽ trở thành những hành lang kinh tế xanh đầy sức sống.

Từ những bãi bồi ven sông hôm nay, một không gian phát triển mới đang dần hình thành. Đó không chỉ là câu chuyện khai thác hiệu quả tài nguyên đất đai mà còn là hành trình “đánh thức” những tiềm năng, tạo động lực tăng trưởng mới cho Ninh Bình trên con đường phát triển xanh và bền vững.

Trần Hồng Minh-An Yên

Nguồn Ninh Bình: https://baoninhbinh.org.vn/de-vung-dat-bai-no-hoa-huong-toi-hanh-lang-kinh-te-xanh-260622201955918.html