Đề xuất các quy định mới với Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội

Dự thảo Nghị định quy định về Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội nhằm tạo cơ sở pháp lý để rà soát, tái cấu trúc quy trình giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực an sinh xã hội theo hướng khai thác, sử dụng dữ liệu đã có trong Cơ sở dữ liệu này và các cơ sở dữ liệu có liên quan.

Cơ sở dữ liệu về người có công cũng là thành phần quan trọng trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội. (Ảnh minh họa: Đoàn công tác tri ân các thương binh, bệnh binh và người có công cách mạng đang điều dưỡng tại Trung tâm điều dưỡng thương binh và người có công Long Đất, Thành phố Hồ Chí Minh/QUANG ANH)

Cơ sở dữ liệu về người có công cũng là thành phần quan trọng trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội. (Ảnh minh họa: Đoàn công tác tri ân các thương binh, bệnh binh và người có công cách mạng đang điều dưỡng tại Trung tâm điều dưỡng thương binh và người có công Long Đất, Thành phố Hồ Chí Minh/QUANG ANH)

Bộ Tư pháp đang thẩm định dự thảo Nghị định quy định về Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội (sau đây gọi tắt là dự thảo Nghị định).

Dữ liệu về an sinh xã hội chưa hình thành được cơ sở dữ liệu dùng chung

Theo Bộ Nội vụ, ngày 25/5/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 708/QĐ-TTg phê duyệt Đề án xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội, ứng dụng công nghệ thông tin vào giải quyết chính sách an sinh xã hội đến năm 2020 và định hướng phát triển đến năm 2030. Mục tiêu là triển khai ứng dụng công nghệ thông tin vào giải quyết chính sách an sinh xã hội cho người dân, đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đổi mới về tổ chức và đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến trong lĩnh vực an sinh xã hội.

Thực hiện Quyết định số 708/QĐ-TTg, các bộ, ngành đã từng bước triển khai, hình thành một số cơ sở dữ liệu chuyên ngành trong lĩnh vực an sinh xã hội như: cơ sở dữ liệu về đối tượng trợ giúp xã hội, trẻ em, người có công, bảo hiểm thất nghiệp…

Kết quả bước đầu các cơ sở dữ liệu này đã từng bước hỗ trợ công tác quản lý, theo dõi, tổng hợp thông tin và giải quyết chính sách trong từng lĩnh vực; góp phần nâng cao nhận thức của các cơ quan, đơn vị về vai trò của dữ liệu trong quản lý nhà nước.

Tuy nhiên, Bộ Nội vụ đánh giá, trong thực tiễn đến nay còn một số hạn chế dưới đây.

Trước hết, hiện nay, dữ liệu trong lĩnh vực an sinh xã hội đang tồn tại dưới hình thức đơn lẻ, theo từng ngành, lĩnh vực, chưa hình thành được cơ sở dữ liệu dùng chung, dẫn đến phân tán, cục bộ, thiếu kết nối, liên thông và chia sẻ dữ liệu.

Cùng với đó, tiến độ xây dựng, hoàn thiện một số cơ sở dữ liệu thuộc các bộ, ngành còn hạn chế; tiêu chuẩn, cấu trúc dữ liệu chưa thống nhất; chất lượng dữ liệu chưa bảo đảm yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”.

Hệ thống thể chế về dữ liệu thuộc lĩnh vực an sinh xã hội chưa được hoàn thiện, thiếu các quy định mang tính tổng thể, thống nhất. Từ đó dẫn đến việc khai thác, sử dụng, phát huy giá trị dữ liệu chưa thực sự hiệu quả, chưa phát huy được giá trị tổng hợp phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành.

Sự ra đời của Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và Kế hoạch số 02-KH/BCĐTW của Ban Chỉ đạo Trung ương đã tạo bước chuyển mạnh mẽ trong nhận thức và hành động về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trong đó xác định dữ liệu là tài nguyên quan trọng, là nền tảng cốt lõi cho phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số.

Đồng thời, tại Công văn số 1734-CV/VPTW ngày 13/4/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng về việc chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Nghị quyết 57-NQ/TW tại điểm c) mục 3 về phát triển dữ liệu phục vụ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế-xã hội đã giao trách nhiệm cho bộ, ngành, địa phương: “...có cơ chế khai thác, sử dụng rõ ràng và phù hợp với quy định về dữ liệu mở, bảo vệ dữ liệu, an toàn, an ninh mạng”. Từ đó, đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc hoàn thiện thể chế, bảo đảm hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất cho việc xây dựng, quản lý và khai thác các cơ sở dữ liệu trên phạm vi toàn quốc.

Bộ Nội vụ nêu rõ, hiện nay, cơ quan này xác định Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội là cơ sở dữ liệu lõi, có cấu trúc phức tạp, là cơ sở dữ liệu tham chiếu và tổng hợp trong lĩnh vực an sinh xã hội; có chức năng tiếp nhận và đồng bộ dữ liệu từ các cơ sở dữ liệu thành phần và dữ liệu phát sinh từ các thủ tục hành chính liên quan thuộc lĩnh vực quản lý của nhiều bộ, ngành.

Cụ thể như: Bộ Y tế (với Cơ sở dữ liệu đối tượng trợ giúp xã hội, Cơ sở dữ liệu trẻ em, Cơ sở dữ liệu cơ sở trợ giúp xã hội); Bộ Nông nghiệp và Môi trường (Cơ sở dữ liệu hộ nghèo và cận nghèo); Bộ Công an (Cơ sở dữ liệu người cai nghiện ma túy và sau cai nghiện ma túy); Bộ Nội vụ (Cơ sở dữ liệu giải quyết hưởng bảo hiểm thất nghiệp, Cơ sở dữ liệu người hưởng chính sách ưu đãi người có công và các cơ sở dữ liệu khác có liên quan theo yêu cầu của cấp có thẩm quyền). Trong đó, Bộ Nội vụ đã khẩn trương phối hợp với các bộ, ngành để triển khai xây dựng, tích hợp và đồng bộ dữ liệu, từng bước hình thành Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội.

Thực tiễn nêu trên cho thấy, nhiệm vụ xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội là điều kiện cần; để Cơ sở dữ liệu này vận hành như một hệ thống dữ liệu dùng chung, có khả năng hỗ trợ giải quyết chính sách, cung cấp dịch vụ công trực tuyến, chỉ đạo điều hành và giám sát thực hiện chính sách xã hội thì việc có văn bản quy phạm pháp luật là cơ sở quy định rõ phạm vi dữ liệu, nguồn, trách nhiệm của các bộ, ngành liên quan, đặc biệt là các bộ chủ quản dữ liệu gốc trong việc cập nhật, vận hành, kết nối, chia sẻ, khai thác, bảo đảm an toàn, an ninh và bảo vệ dữ liệu cá nhân là cần thiết để phát huy tối đa giá trị dữ liệu trong phục vụ công tác chỉ đạo điều hành, phục vụ người dân và cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, không để dữ liệu chỉ dừng lại bước tích hợp kỹ thuật.

Bộ Nội vụ khẳng định, việc xây dựng và ban hành Nghị định là hết sức cần thiết, kịp thời đáp ứng yêu cầu chỉ đạo của Chính phủ, đồng thời tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho việc triển khai đồng bộ Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội trên phạm vi toàn quốc, làm cơ sở để các bộ, ngành tổ chức kết nối, tích hợp, chia sẻ và khai thác dữ liệu một cách hiệu quả, khắc phục tình trạng phân tán dữ liệu; góp phần nâng cao chất lượng dữ liệu theo nguyên tắc “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”, hỗ trợ hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu theo thời gian thực và tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội trong bối cảnh đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia.

Tạo cơ sở pháp lý để rà soát, tái cấu trúc quy trình giải quyết thủ tục hành chính về an sinh xã hội

Với 4 chương, 28 điều, dự thảo Nghị định có một số nội dung cơ bản đáng quan tâm.

Dự thảo xác định Chính phủ là chủ sở hữu, Bộ Nội vụ là cơ quan chủ quản Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội; quy định về kinh phí bảo đảm xây dựng, quản lý, vận hành Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội.

Dự thảo nêu bật một số quy định về việc xây dựng, quản lý, khai thác và sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội.

Quy định các cơ sở dữ liệu thành phần hình thành Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội; các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và hệ thống thông tin có liên quan được kết nối, chia sẻ dữ liệu; cấu trúc dữ liệu gồm các nhóm thông tin cốt lõi về đối tượng thụ hưởng chính sách an sinh xã hội; các thành phần của Hệ thống thông tin Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội.

Quy định nguồn thu thập, cập nhật dữ liệu; yêu cầu đối với các cơ sở dữ liệu thành phần; việc thu thập, chuẩn hóa, nhập dữ liệu ban đầu; cập nhật, hiệu chỉnh thông tin; kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội với các cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin có liên quan nhằm bảo đảm dữ liệu được quản lý tập trung, thống nhất, đồng bộ, chính xác, đầy đủ, kịp thời và phục vụ hiệu quả công tác quản lý nhà nước, cung cấp dịch vụ công và thực hiện chính sách an sinh xã hội trên môi trường số.

Quy định chủ thể, phạm vi, quyền và phương thức khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân; quy định việc khai thác dữ liệu thông qua kết nối, chia sẻ dữ liệu, Cổng Dịch vụ công quốc gia, Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID), Cổng thông tin điện tử về an sinh xã hội và các phương thức khác theo quy định của pháp luật.

Quy định các yêu cầu về bảo đảm hạ tầng kỹ thuật, lưu trữ dữ liệu, an ninh mạng, bảo đảm hệ thống được vận hành ổn định, thông suốt và an toàn.

Dự thảo Nghị định cũng quy định trách nhiệm của Bộ Nội vụ, Bộ Công an, Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Ban Cơ yếu Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc xây dựng, quản lý, vận hành, cập nhật, kết nối, chia sẻ dữ liệu, bảo đảm hạ tầng kỹ thuật, an toàn thông tin, an ninh mạng và tổ chức triển khai Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội theo chức năng, nhiệm vụ được giao.

Bộ Nội vụ xác định, việc ban hành Nghị định sẽ tạo cơ sở pháp lý để rà soát, tái cấu trúc quy trình giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực an sinh xã hội theo hướng khai thác, sử dụng dữ liệu đã có trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội và các cơ sở dữ liệu có liên quan; hạn chế yêu cầu người dân cung cấp, khai báo lại thông tin, giấy tờ đã được cơ quan nhà nước quản lý.

Trên cơ sở dữ liệu được chuẩn hóa, kết nối, chia sẻ và cập nhật thường xuyên, các bộ, ngành, địa phương có thể căn cứ để triển khai từng bước cắt giảm thủ tục hành chính, thành phần hồ sơ thuộc lĩnh vực phụ trách, giảm bớt khối lượng và rút ngắn thời gian thực hiện, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến và hướng đến hỗ trợ thực hiện chi trả chính sách an sinh xã hội khi đủ điều kiện kỹ thuật và pháp lý.

Dự thảo Nghị định quy định về Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội được xây dựng tập trung, thống nhất, do Bộ Nội vụ là cơ quan chủ quản. Các bộ, ngành, địa phương và cơ quan, tổ chức có liên quan theo chức năng, nhiệm vụ được giao có trách nhiệm xây dựng, quản lý, cập nhật và bảo đảm chất lượng dữ liệu đối với các cơ sở dữ liệu thành phần, đồng thời thực hiện kết nối, chia sẻ và đồng bộ dữ liệu với Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội theo quy định của pháp luật.

Việc phân công, phân cấp trách nhiệm quản lý dữ liệu được thực hiện trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan, bảo đảm thống nhất trong quản lý, không chồng chéo về trách nhiệm, phát huy tính chủ động của các cơ quan trong việc tạo lập, cập nhật, quản lý và khai thác dữ liệu.

Việc xây dựng và ban hành Nghị định nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng, quản lý, kết nối, chia sẻ, khai thác và sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội; phát huy giá trị dữ liệu trong công tác chỉ đạo, điều hành, hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội.

Nghị định phù hợp với chủ trương của Đảng về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, góp phần xây dựng Chính phủ số, xã hội số và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

NGÂN LÊ

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/de-xuat-cac-quy-dinh-moi-voi-co-so-du-lieu-quoc-gia-ve-an-sinh-xa-hoi-post984276.html