Đề xuất dành tối thiểu 20% giá trị mua sắm công cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
Dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa đề xuất mở rộng đối tượng thụ hưởng chính sách hỗ trợ, đa dạng hóa nguồn vốn và dành tối thiểu 20% tổng giá trị mua sắm sử dụng ngân sách nhà nước hằng năm cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia. Cơ quan thẩm tra đề nghị làm rõ tính khả thi, cơ chế thực hiện và biện pháp ngăn ngừa lợi dụng chính sách.
Chiều 17/10, tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình bày Tờ trình dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, thay thế Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn trình bày tờ trình dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, thay thế Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017.
Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, sau gần 10 năm thực hiện, luật hiện hành đã tạo cơ sở pháp lý cho các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, góp phần cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh. Tuy nhiên, một số chính sách chưa phát huy hiệu quả, phương thức hỗ trợ chưa sát nhu cầu thực tế, cơ chế giám sát, đánh giá chưa đồng bộ và hệ sinh thái hỗ trợ còn phân tán.
Luật mới được xây dựng nhằm thể chế hóa chủ trương phát triển kinh tế tư nhân, thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và cụ thể hóa các cơ chế, chính sách đặc biệt theo Nghị quyết số 198/2025/QH15 của Quốc hội. Dự thảo gồm 4 chương, 35 điều.
Mở rộng chính sách hỗ trợ doanh nghiệp
Dự thảo đề xuất thay tiêu chí số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bằng số lao động bình quân năm để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các ngưỡng tối đa được đề xuất gồm 300 lao động, doanh thu 400 tỷ đồng và tổng nguồn vốn 150 tỷ đồng.
Chính sách hỗ trợ được mở rộng thông qua phiếu hỗ trợ (voucher), giúp doanh nghiệp chủ động lựa chọn dịch vụ phù hợp; đa dạng hóa nguồn vốn từ tín dụng chính sách, quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách và thị trường vốn. Các tổ chức tín dụng được khuyến khích đánh giá khả năng trả nợ dựa trên doanh thu, dòng tiền và giao dịch của doanh nghiệp.
Trong lĩnh vực thuế, dự thảo đề xuất nâng ngưỡng doanh thu áp dụng phương pháp tính thuế đơn giản lên 10 tỷ đồng/năm. Đáng chú ý, các gói thầu xây lắp, mua sắm hàng hóa sử dụng ngân sách nhà nước có giá không quá 20 tỷ đồng được đề xuất dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; đồng thời, tối thiểu 20% tổng giá trị mua sắm sử dụng ngân sách nhà nước hằng năm dành cho khu vực này tham gia.
Dự thảo cũng khuyến khích doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài phát triển nhà cung cấp là doanh nghiệp nhỏ và vừa, qua đó tăng khả năng tham gia chuỗi cung ứng.
Đối với hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp, dự thảo đề xuất rút ngắn thời gian đăng ký, miễn một số phí, lệ phí ban đầu và đơn giản hóa chế độ thuế, kế toán, báo cáo. Doanh nghiệp siêu nhỏ do một cá nhân làm chủ được đề xuất không bắt buộc có Chủ tịch công ty và kế toán trưởng. Các chính sách hỗ trợ khác hướng đến chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, doanh nghiệp do phụ nữ, người khuyết tật làm chủ và doanh nghiệp tại miền núi, biên giới, hải đảo.
Về tổ chức thực hiện, Bộ Tài chính được xác định là cơ quan đầu mối quản lý, điều phối hoạt động phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong thời hạn tối đa một năm kể từ ngày luật có hiệu lực, Chính phủ sẽ rà soát, sáp nhập hoặc giải thể Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; các địa phương rà soát tương tự đối với quỹ bảo lãnh tín dụng địa phương.
Đề nghị làm rõ tính khả thi của chính sách
Trình bày báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi cho biết cơ quan thẩm tra tán thành sự cần thiết ban hành luật mới. Tuy nhiên, do dự thảo có phạm vi rộng, liên quan đến nhiều luật chuyên ngành, Ủy ban đề nghị chỉ quy định những nội dung mang tính nguyên tắc hoặc dẫn chiếu, tránh trùng lặp và bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Về tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa, cơ quan thẩm tra cho rằng các chỉ tiêu về lao động, doanh thu và nguồn vốn có thể biến động hằng năm, trong khi việc xác định thường phải chờ doanh nghiệp hoàn thành báo cáo tài chính năm trước. Điều này có thể gây khó khăn cho các chương trình hỗ trợ trung và dài hạn từ 3-5 năm.

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi trình bày Báo cáo thẩm tra.
Ủy ban đề nghị nghiên cứu tiêu chí phù hợp với từng nhóm doanh nghiệp, xem xét sử dụng số liệu trong 2-3 năm liền kề, đồng thời đánh giá tác động đến đối tượng thụ hưởng và nguồn lực thực hiện. Dự thảo cũng cần bổ sung quy định bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật kinh doanh và bảo đảm an ninh, an toàn thông tin.
Đối với chính sách vốn, khả năng thực thi còn phụ thuộc vào hạ tầng định giá, đăng ký và xử lý tài sản bảo đảm, nhất là tài sản vô hình và quyền sở hữu trí tuệ. Việc chia sẻ dữ liệu phục vụ cấp vốn cần bảo đảm quyền tự chủ và an toàn hoạt động của tổ chức tín dụng.
Về thuế, Ủy ban đề nghị chuyển các ưu đãi cụ thể về thuế thu nhập doanh nghiệp sang các dự án luật thuế được trình tại cùng kỳ họp. Đa số ý kiến đề nghị bảo đảm doanh nghiệp nhỏ và vừa không được hưởng mức ưu đãi thấp hơn doanh nghiệp khác khi đáp ứng cùng điều kiện; đồng thời nghiên cứu chính sách miễn thuế 2-3 năm kể từ năm đầu tiên phát sinh thu nhập chịu thuế.
Với chính sách hỗ trợ mặt bằng sản xuất, cơ quan thẩm tra lưu ý việc dùng ngân sách địa phương đầu tư hạ tầng khu, cụm công nghiệp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thuê có thể khó thực hiện tại địa phương có nguồn thu hạn chế. Đề xuất dành bình quân 20 ha mỗi khu, cụm công nghiệp hoặc 5% diện tích đất cho doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng cần được đánh giá về tính khả thi do quỹ đất giữa các địa phương khác nhau. Chính sách giảm tối thiểu 30% tiền thuê lại đất trong 5 năm đầu cần làm rõ nguồn ngân sách, cơ chế hoàn trả và biện pháp ngăn ngừa việc tăng giá thuê để hưởng hỗ trợ.
Riêng chính sách ưu tiên doanh nghiệp nhỏ và vừa trong mua sắm công, Ủy ban nhấn mạnh cần bảo đảm phù hợp với pháp luật về đấu thầu, tránh hình thành cơ chế lựa chọn nhà thầu song song. Cơ quan thẩm tra đề nghị làm rõ cơ sở quy định gói thầu không quá 20 tỷ đồng và tỷ lệ mua sắm tối thiểu 20%; đồng thời xác định cách xử lý khi không có doanh nghiệp nhỏ và vừa đáp ứng yêu cầu, ngăn ngừa tình trạng chia nhỏ gói thầu hoặc lập doanh nghiệp trung gian để hưởng ưu đãi.
Về tổ chức thực hiện, Ủy ban đề nghị phân định rõ trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương, bổ sung cơ chế đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực của từng chương trình hỗ trợ. Việc sắp xếp các quỹ hỗ trợ cần đánh giá đầy đủ nguyên nhân hoạt động chưa hiệu quả, làm rõ phương án xử lý tài sản và các cam kết bảo lãnh đã phát hành, bảo đảm không làm gián đoạn các khoản vay, bảo lãnh đang thực hiện.
