Quốc hội bàn việc gỡ khó về vốn, ưu đãi thuế cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Thảo luận về dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, các đại biểu Quốc hội đề nghị tháo gỡ khó khăn trong tiếp cận vốn, đồng thời điều chỉnh chính sách ưu đãi thuế để doanh nghiệp được hưởng lợi thực chất, phù hợp với từng giai đoạn phát triển.

Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc. Ảnh: Media Quốc hội.

Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc. Ảnh: Media Quốc hội.

Chiều 17/10, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội thảo luận ở tổ về dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Tại tổ thảo luận của Đoàn đại biểu Quốc hội Sơn La và Cần Thơ, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc nhắc lại mục tiêu phấn đấu cả nước có 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030; đến năm 2045 đạt 3 triệu doanh nghiệp, đóng góp khoảng 60% GDP. Trong khi đó, cả nước hiện mới có hơn 1 triệu doanh nghiệp. Ông dẫn những số liệu "rất đáng suy ngẫm": Trong 9 tháng qua, có tới 172.000 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, trong khi số thành lập mới là 149.000 doanh nghiệp.

Góp ý dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, ông Nguyễn Duy Ngọc đề nghị quy định rõ nguyên tắc sử dụng quỹ phát triển khoa học, công nghệ, bảo đảm nguồn lực dành cho hỗ trợ phát triển, không dùng để trả lương hoặc trang trải chi phí quản lý thường xuyên.

Ông cũng nhấn mạnh yêu cầu tháo gỡ khó khăn trong tiếp cận vốn. Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tới 98% tổng số doanh nghiệp, song tỷ lệ tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức mới đạt khoảng 10–20%.

Cùng với đó, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương đề nghị đẩy mạnh kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu liên thông giữa cơ quan quản lý doanh nghiệp với cơ quan thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác.

Theo ông, minh bạch hóa thông tin thông qua dữ liệu sẽ góp phần ngăn chặn tình trạng trục lợi chính sách ưu đãi, lập "doanh nghiệp ma" để mua bán hóa đơn, chiếm đoạt tiền thuế giá trị gia tăng.

Đại biểu Nguyễn Duy Thanh - Đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau. Ảnh: Media Quốc hội.

Đại biểu Nguyễn Duy Thanh - Đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau. Ảnh: Media Quốc hội.

Phân loại chính sách hỗ trợ theo giai đoạn phát triển và khả năng tài chính của doanh nghiệp

Góp ý về chính sách miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, đại biểu Nguyễn Duy Thanh - Đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau, cho biết dự thảo tiếp tục quy định miễn thuế cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong 3 năm kể từ khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu, theo Nghị quyết số 198/2025/QH15.

Đại biểu đề nghị đánh giá kỹ hiệu quả thực chất của chính sách này. Trong những năm đầu thành lập, nhiều doanh nghiệp chưa có lãi, thậm chí còn phải bù đắp chi phí đầu tư ban đầu. Khi hoạt động ổn định và bắt đầu phát sinh thu nhập chịu thuế, thời gian miễn thuế đã hết, khiến doanh nghiệp chưa thực sự được hưởng lợi từ ưu đãi.

Vì vậy, ông đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu cách xác định thời điểm hưởng ưu đãi linh hoạt hơn. Một phương án là miễn thuế tối đa 3 năm, tính từ năm đầu tiên phát sinh thu nhập chịu thuế, trong thời hạn tối đa 6 năm kể từ khi thành lập. Phương án khác là miễn thuế trong 2 năm có phát sinh thu nhập chịu thuế trong 5 năm đầu. Theo đại biểu, các phương án cần được so sánh đầy đủ với cơ chế hiện hành về mức độ hỗ trợ doanh nghiệp và tác động đến ngân sách Nhà nước.

Đối với ưu đãi thuế cho hoạt động nghiên cứu, phát triển và sử dụng lao động tại Điều 11 và Điều 17, dự thảo cho phép tính một số khoản chi vào chi phí được trừ với mức cao hơn chi phí thực tế.

Tán thành mục tiêu khuyến khích doanh nghiệp nghiên cứu, đổi mới công nghệ và sử dụng lao động thuộc các nhóm cần hỗ trợ, ông Thanh lưu ý cần đánh giá hiệu quả của cơ chế này đối với doanh nghiệp nhỏ mới thành lập, đang trong giai đoạn đầu tư hoặc chưa phát sinh thu nhập chịu thuế.

Chẳng hạn, với một doanh nghiệp công nghệ đang nghiên cứu sản phẩm, chưa có doanh thu và còn thua lỗ, việc tăng chi phí được trừ chưa trực tiếp tạo thêm dòng tiền để thuê chuyên gia, mua thiết bị hay hoàn thiện sản phẩm. Lợi ích về thuế có thể phát sinh trong tương lai theo các quy định liên quan, nhưng chưa giải quyết được khó khăn trước mắt về dòng tiền.

Từ đó, đại biểu đề nghị phân loại chính sách hỗ trợ theo giai đoạn phát triển và khả năng tài chính của doanh nghiệp. Với doanh nghiệp chưa có thu nhập chịu thuế, cần chú trọng các hình thức hỗ trợ trực tiếp, có điều kiện như sử dụng hạ tầng nghiên cứu dùng chung, hỗ trợ thử nghiệm, kiểm định, đào tạo và phiếu hỗ trợ. Với doanh nghiệp đã có thu nhập chịu thuế, thực hiện ưu đãi theo pháp luật thuế.

Đại biểu Nguyễn Văn Thân - Đoàn ĐBQH TP HCM.

Đại biểu Nguyễn Văn Thân - Đoàn ĐBQH TP HCM.

Đề xuất nâng ngưỡng doanh thu miễn thuế cho hộ kinh doanh lên 2 tỷ đồng/năm

Đề cập tới vấn đề vốn, đại biểu Nguyễn Văn Thân - Đoàn ĐBQH TP HCM, đề cập đầu tiên khi cho rằng "các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh đang rất thiếu vốn". Theo ông Thân, ngành ngân hàng vẫn phải giải bài toán cân đối giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động. Lãi suất cho vay quá cao khiến doanh nghiệp “không thể chịu được”, trong khi lãi suất tiền gửi quá thấp lại khó thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân.

Để tháo gỡ khó khăn này, ông đề xuất khai thác nguồn lực tiền gửi và ngoại tệ trong dân, kết hợp ứng dụng công nghệ số trong huy động, quản lý vốn nhằm tối ưu hóa hoạt động và tiết giảm chi phí. Đại biểu cũng đề nghị phát triển ngân hàng số, cho rằng chi phí vận hành thấp sẽ giúp thu hút vốn nhanh và cung ứng vốn kịp thời.

Về ngưỡng doanh thu không chịu thuế của hộ kinh doanh, ông Thân kiến nghị nâng từ 1 tỷ đồng lên 2 tỷ đồng/năm.

Ông cho rằng miễn thuế cho hộ kinh doanh có doanh thu từ 2 tỷ đồng/năm trở xuống sẽ giúp người dân có thêm nguồn lực tái đầu tư sản xuất, cải thiện đời sống và bảo đảm an sinh xã hội, đồng thời giúp Nhà nước tiết kiệm chi phí quản lý hành chính.

Bên cạnh đó, đại biểu đề nghị dự thảo luật có một chương riêng quy định trách nhiệm của các cơ quan quản lý Nhà nước trong tổ chức thi hành luật. "Doanh nghiệp vi phạm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật nhưng cơ quan thi hành công vụ nếu chậm trễ, nhũng nhiễu hoặc thực thi sai cũng phải chịu trách nhiệm," ông Thân đề xuất.

Theo ông, nếu trách nhiệm công vụ không được quy định rõ, cơ chế “xin – cho” vẫn sẽ tồn tại. Từ thực tế làm việc với các cơ quan quản lý ở cấp tỉnh và cấp bộ, ông nhận thấy tình trạng này tuy đã giảm nhưng vẫn còn khá phổ biến.

Kiều Chinh

Nguồn Mekong Asean: https://mekongasean.vn/quoc-hoi-ban-viec-go-kho-ve-von-uu-dai-thue-cho-doanh-nghiep-nho-va-vua-60767.html