Đề xuất hàng loạt chính sách ưu đãi thuế, phí, đất đai để phát triển văn hóa
Để tạo nguồn lực phát triển văn hóa, dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam đề xuất hỗ trợ đất đai, ưu đãi thuế phí, phát triển khu công nghiệp sáng tạo; áp dụng thuế GTGT 5% cho một số hoạt động văn hóa và miễn 100% thuế nhập khẩu, phí hải quan...
10 nhóm chính sách mới
Sáng ngày 20/4, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh đã đọc Tờ trình dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam. Theo đó, sau khi tiếp thu những ý kiến góp ý của các đại biểu Quốc hội, dự thảo Nghị quyết đã được điều chỉnh gồm 13 Điều với 10 nhóm chính sách lớn. Cụ thể:
Thứ nhất, về nguồn lực phát triển văn hóa: Nhà nước bảo đảm chi cho văn hóa hàng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước; đồng thời khuyến khích huy động nguồn lực xã hội cho phát triển văn hóa.

Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh đọc Tờ trình dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam.
Thứ hai, về cơ chế chính sách thu hút, khơi thông nguồn lực đầu tư phát triển văn hóa, bao gồm các chính sách: hỗ trợ tiếp cận đất đai, mặt bằng; hỗ trợ thuế, phí, lệ phí để đầu tư hình thành các cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa; giao cho cộng đồng dân cư quản lý, vận hành, khai thác, sử dụng một số thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở.
Thứ ba, về cơ chế ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực văn hóa: đề xuất áp dụng mức thuế giá trị gia tăng 5% đối với sản xuất phim, phát hành phim, phổ biến phim, triển lãm, thể dục, thể thao, biểu diễn nghệ thuật; miễn 100% thuế nhập khẩu, phí hải quan để đưa các tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao, di sản bảo vật quốc gia, cổ vật quý hiếm ở nước ngoài được mua đấu giá đem về Việt Nam không vì mục đích lợi nhuận để trưng bày; thí điểm mô hình đô thị di sản; ưu tiên quỹ đất cho xây dựng các công trình văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí ở cơ sở và sử dụng trụ sở công dôi dư để thu hút các dự án đầu tư trong lĩnh vực văn hóa, thể thao...
Thứ tư, về cơ chế, chính sách bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số, nghệ thuật dân gian, nghệ thuật truyền thống và bảo vật quốc gia, cổ vật quý hiếm: tập trung cho nhiệm vụ bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc.
Thứ năm, về chính sách đãi ngộ, phát triển tài năng nhân lực đặc thù về nghề nghiệp trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, bao gồm: chính sách bồi dưỡng tập trung, chuyên sâu trong nước và ở nước ngoài; cơ chế tuyển dụng không qua thi tuyển; chính sách hỗ trợ tăng mức phụ cấp ưu đãi nghề, chế độ bồi dưỡng cho nghệ nhân, nghệ sĩ; việc đào tạo lại để chuyển nghề khi nghệ sĩ hết tuổi nghề.
Thứ sáu, về đặt hàng, khoán chi đối với hoạt động sáng tạo văn hóa sử dụng ngân sách nhà nước: Nhà nước có cơ chế đặt hàng sáng tạo và phổ biến các công trình, tác phẩm văn hóa có giá trị cao về tư tưởng, nội dung và nghệ thuật; thí điểm áp dụng cơ chế khoán chi gắn với những tiêu chí, điều kiện cụ thể.
Thứ bảy, về quảng bá, xúc tiến, phát triển sản phẩm, thị trường công nghiệp văn hóa Việt Nam, gồm các chính sách: hỗ trợ quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra nước ngoài thông qua tổ chức Tuần Văn hóa Việt Nam, nhân rộng mô hình khu phố Việt Nam; trưng bày chuyên đề di sản văn hóa Việt Nam tại các bảo tàng có uy tín trên thế giới…
Thứ tám, về chính sách chuyển đổi số và phát triển hạ tầng văn hóa số: ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về văn hóa, hạ tầng văn hóa số và nền tảng dùng chung; số hóa các di sản đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt; hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa…
Thứ chín, về thí điểm thành lập Quỹ văn hóa, nghệ thuật ở trung ương và một số địa phương, hoạt động theo mô hình hợp tác công tư.
Thứ mười, về thể chế hóa chủ trương của Bộ Chính trị về Ngày 24 tháng 11 hàng năm là “Ngày Văn hóa Việt Nam”, người lao động được nghỉ làm việc và hưởng nguyên lương.
Nghiên cứu nguyên tắc áp dụng chính sách ưu đãi đặc thù
Thẩm tra dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh cho biết, Ủy ban cơ bản tán thành chủ trương thu hút, khơi thông các nguồn lực đầu tư cho phát triển văn hóa. Tuy nhiên, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu, làm rõ nội hàm và quy định các nguyên tắc áp dụng chính sách ưu đãi đặc thù, bảo đảm cơ sở pháp lý đầy đủ để thu hút hiệu quả nguồn lực đầu tư phát triển văn hóa.
Về cơ chế ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực văn hóa, Ủy ban cơ bản tán thành cơ chế ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực văn hóa. Có ý kiến đề nghị làm rõ khái niệm “mô hình đô thị di sản”, xác định rõ tiêu chí lựa chọn địa phương thí điểm; quy định các nguyên tắc khi áp dụng cơ chế, chính sách ưu đãi về đất đai, phí và lệ phí; đồng thời, có lộ trình triển khai phù hợp, tránh dàn trải, bảo đảm hiệu quả đầu tư và khả năng cân đối nguồn lực.
Ủy ban cho rằng việc quy định về miễn, giảm tiền thuê đất, tiền thuê bất động sản thuộc sở hữu nhà nước đối với nhà xuất bản, cơ sở sản xuất phim tài liệu và khoa học 100% vốn nhà nước là cần thiết; tuy nhiên đề nghị rà soát bảo đảm phù hợp với pháp luật về đất đai và quản lý, sử dụng tài sản công; làm rõ tiêu chí, điều kiện áp dụng, phạm vi ưu đãi.
Về chính sách đãi ngộ, phát triển tài năng, nhân lực đặc thù về nghề nghiệp trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, Ủy ban cơ bản tán thành các chính sách đãi ngộ, phát triển tài năng, nhân lực đặc thù về nghề nghiệp trong lĩnh vực văn hóa, thể thao. Tuy nhiên, đề nghị rà soát kỹ các nhóm đối tượng được hưởng chính sách về phụ cấp ưu đãi nghề, chế độ bồi dưỡng tập luyện và biểu diễn để bảo đảm sử dụng hiệu quả nguồn lực, tránh dàn trải; làm rõ các khái niệm về loại hình “nghệ thuật biểu diễn truyền thống”, “nghệ thuật biểu diễn cổ điển”.
Về đặt hàng, khoán chi đối với hoạt động sáng tạo văn hóa sử dụng ngân sách nhà nước, Ủy ban tán thành quy định thí điểm áp dụng cơ chế khoán chi kinh phí từ ngân sách nhà nước đối với một số hoạt động sáng tạo sản phẩm văn hóa (tại khoản 3). Tuy nhiên, đề nghị quy định rõ các nội dung như danh mục nhiệm vụ, hoạt động được áp dụng khoán, phương thức xác định định mức khoán, tiêu chí đánh giá kết quả; xác định nguyên tắc thanh toán phù hợp với khối lượng công việc đã thực hiện, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu quản lý chặt chẽ ngân sách và tính đặc thù, rủi ro của hoạt động sáng tạo văn hóa.
Về Quỹ văn hóa, nghệ thuật, Ủy ban cho rằng, chủ trương hình thành “Quỹ văn hóa, nghệ thuật” có cơ sở chính trị tại Nghị quyết số 80-NQ/TW. Tuy nhiên, việc thí điểm thành lập Quỹ văn hóa, nghệ thuật theo mô hình hợp tác công tư, quỹ đầu tư mạo hiểm là chính sách mới, phạm vi tác động lớn, liên quan trực tiếp đến quản lý, sử dụng vốn nhà nước và cơ chế huy động nguồn lực xã hội, trong khi pháp luật hiện hành chưa có quy định đầy đủ về mô hình này. Đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục đánh giá kỹ về mô hình tổ chức, cơ chế quản trị, phương thức huy động vốn, tỷ lệ tham gia của nhà nước và khu vực tư nhân, nguyên tắc phân chia rủi ro và trách nhiệm của các chủ thể liên quan để Chính phủ có cơ sở quy định chi tiết, bảo đảm chặt chẽ, khả thi.
Còn thiếu cơ chế thu hút đầu tư tư nhân

Đại biểu Bùi Văn Mạnh.
Thảo luận tại tổ, đại biểu Bùi Văn Mạnh (Ninh Bình) cho rằng, để chính sách đi vào cuộc sống và chuyển biến rõ nét cần quan tâm đầu tư cho văn hóa, bởi hiện nay kinh phí đầu tư cho văn hóa còn thấp, dàn trải; vẫn còn thiếu cơ chế thu hút đầu tư tư nhân; ngành công nghiệp văn hóa chưa phát triển, mới ở giai đoạn sơ khai và thiếu những hệ sinh thái, chính sách để phát triển… Từ những vấn đề trên, đại biểu đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo xem xét bổ sung cơ chế chính sách thí điểm mô hình đầu tư công, quản trị tư; nêu rõ quan điểm nhà nước đầu tư về hạ tầng, doanh nghiệp quản trị khai thác và chia sẻ doanh thu một cách hợp lý.
Về thí điểm mô hình đô thị di sản, đại biểu cho rằng, đây có thể coi là chính sách đột phá cho nhiều địa phương đang có định hướng phát triển mô hình đô thị, như Hà Nội, Hưng Yên, Ninh Bình, Quảng Ninh, Huế, Đà Nẵng. Tuy nhiên, đại biểu nhấn mạnh, cần chính sách, cơ chế phân cấp, giao quyền cho địa phương mạnh hơn để tăng tính chủ động, tạo động lực tài chính trực tiếp, gắn kết trách nhiệm của địa phương với việc phát triển kinh tế - xã hội, cũng như bảo tồn di sản văn hóa tại địa phương.
Do vậy, đại biểu Bùi Văn Mạnh đề xuất giao địa phương được quyền quyết định chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, phí, lệ phí đối với các hoạt động khai thác, phát huy giá trị di sản và công nghiệp văn hóa; được giữ lại các nguồn thu từ hoạt động di sản, tiền sử dụng đất và tiền thuê đất phát sinh trên địa bàn để tái đầu tư cho hạ tầng đô thị di sản, phục vụ công tác bảo quản, tu bổ, phát huy giá trị của di sản.
Cho ý kiến về cơ chế thu hút ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực văn hóa, đại biểu Bùi Văn Mạnh đề nghị xem xét mở rộng đối tượng cho các dự án về bảo tồn di sản gắn với phát triển du lịch và giao cho Chính phủ quy định chi tiết về các mô hình đầu tư công, quản trị tư, cách thức hợp tác, tỉ lệ phân chia lợi nhuận, phương thức giao cho nhà đầu tư, cho doanh nghiệp quản trị khai thác các công trình, hạ tầng thiết chế văn hóa do Nhà nước đầu tư. Đồng thời, xem xét, phân cấp cho Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định chi tiết, tỉ lệ điều tiết, doanh thu lợi nhuận trong từng giai đoạn.
Cho ý kiến về cơ chế, chính sách thu hút vốn, nguồn lực đầu tư để phát triển văn hóa, đại biểu Hoàng Ngân Hoàn (Sơn La) đề nghị sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 4 quy định về miễn thuế trong doanh thu của tổ chức cá nhân liên quan đến lĩnh vực công nghiệp văn hóa. Bởi một doanh nghiệp có nhiều ngành nghề kinh doanh và các hoạt động, nên cần làm rõ miễn thuế trong doanh thu liên quan tới lĩnh vực công nghiệp văn hóa hoặc phát triển văn hóa.
Đối với quy định về cơ chế ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực văn hóa, đại biểu đồng tình với quy định ưu tiên quỹ đất của các cơ quan, tổ chức nhà nước được giao quản lý, trụ sở công dôi dư… nhưng nên làm rõ hơn các công trình thuộc sở hữu nhà nước để "cho thuê các công trình thuộc sở hữu nhà nước để tổ chức hoạt động văn hóa, thể thao", tránh trường hợp lạm dụng, nhất là đối với lĩnh vực thể thao.











