Đề xuất miễn, giảm thuế TNDN, TNCN để phát triển công nghiệp văn hóa

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang lấy ý kiến dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, trong đó đề xuất nhiều chính sách ưu đãi về thuế thu TNDN, thuế TNCN nhằm thu hút đầu tư, nhân lực chất lượng cao và tạo động lực phát triển lĩnh vực công nghiệp văn hóa.

Cần “cú huých” chính sách cho công nghiệp văn hóa

Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, công nghiệp văn hóa được đưa vào Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam như một mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể.

Sau 12 năm triển khai, tỷ trọng công nghiệp văn hóa trong GDP Việt Nam giai đoạn 2018-2025 ước đạt 4-5%, còn cách khá xa mục tiêu tối thiểu 7% vào năm 2030. Theo Bộ, lĩnh vực này khó có thể tạo bước đột phá nếu không có một “cú huých” về chính sách kiến tạo của nhà nước.

Mặc dù có tiềm năng và nguồn lực lớn, các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam vẫn phát triển chưa tương xứng. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho rằng pháp luật về văn hóa còn thiếu tính đồng bộ, chủ yếu tiếp cận công nghiệp văn hóa dưới góc độ quản lý nội dung, trong khi các chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế, huy động nguồn lực và tạo động lực cho doanh nghiệp còn hạn chế.

Các quy định hiện hành đang phân tán tại nhiều luật chuyên ngành như điện ảnh, sở hữu trí tuệ, du lịch, quảng cáo, xuất bản... Một số lĩnh vực như văn học, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm vẫn chưa được điều chỉnh bằng luật chuyên ngành.

 (Ảnh minh họa)

(Ảnh minh họa)

Theo Bộ, hệ thống quy định hiện hành còn thiếu một khung pháp lý tổng thể, kết nối toàn bộ chuỗi giá trị từ sáng tạo, sản xuất, phân phối đến tiêu dùng sản phẩm văn hóa. Điều này tạo ra những khoảng trống, điểm mờ và điểm nghẽn pháp lý trong quá trình phát triển công nghiệp văn hóa.

Dự án Luật được xây dựng nhằm tạo cơ sở pháp lý để kết nối văn hóa với sáng tạo, quyền sở hữu trí tuệ với vốn, vốn với sản xuất, sản xuất với phân phối, doanh thu với tái đầu tư và xuất khẩu.

Đặc biệt, trước sự phát triển nhanh của công nghệ số và các nền tảng xuyên biên giới, Bộ cho rằng cần hoàn thiện hành lang pháp lý để bảo vệ các nhà sản xuất nội dung trong nước, phát triển nền tảng phân phối nội dung số nội địa và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

Từ những yêu cầu trên, việc xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được xác định nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Dự án Luật hướng tới tháo gỡ các điểm nghẽn, bổ sung những khoảng trống pháp lý, khơi thông nguồn lực và tạo điều kiện để công nghiệp văn hóa trở thành một động lực tăng trưởng mới.

Đề xuất miễn thuế 2 năm, giảm 50% trong 4 năm

Một trong những nội dung đáng chú ý của dự án Luật là các chính sách ưu đãi về thuế TNDN và TNCN nhằm thúc đẩy đầu tư, sản xuất và sáng tạo trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa.

Về thu hút và trọng dụng nhân lực chất lượng cao, Bộ đề xuất áp dụng chính sách ưu đãi thuế TNCN, cơ chế lương, thưởng cạnh tranh, hỗ trợ môi trường sống, làm việc, phương tiện đi lại và hỗ trợ tài chính cho hoạt động nghiên cứu, phát triển, hợp tác quốc tế.

Đối với chuyên gia nước ngoài, dự án Luật đề xuất cấp thẻ tạm trú thời hạn 5 năm cho chuyên gia và gia đình gồm vợ, chồng, con dưới 18 tuổi.

Đối với khu vực công, dự án Luật đề xuất cơ chế tiếp nhận nhân lực chất lượng cao vào công chức, viên chức không qua thi tuyển; bổ nhiệm lãnh đạo không phụ thuộc điều kiện về thời gian công tác hoặc quy hoạch. Đồng thời, mở cơ chế để nhân lực chất lượng cao từ khu vực tư quay trở lại khu vực công được hưởng chế độ về lương, phụ cấp, ngạch, hạng tương đương trước đây.

Về tài chính, hỗ trợ và ưu đãi đầu tư, dự án Luật đề xuất hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã thông qua việc áp dụng mức ưu đãi cao nhất về thuế TNDN. Đồng thời, miễn thuế nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị, vật tư chuyên dùng phục vụ sản xuất, sáng tạo nội dung mà trong nước chưa sản xuất được.

Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, startup văn hóa, dự án Luật đề xuất ưu tiên tiếp cận vốn thông qua cơ chế bảo lãnh tín dụng. Cá nhân, hộ kinh doanh và nhóm sáng tạo có thể được miễn, giảm phí sử dụng không gian sáng tạo, không gian trưng bày trong giai đoạn ươm tạo; đồng thời được hỗ trợ đào tạo kỹ năng, tư vấn khởi nghiệp, chuyển đổi số và kết nối tiêu thụ sản phẩm.

Đáng chú ý, dự án Luật đề xuất áp dụng ưu đãi đầu tư đặc biệt đối với hoạt động sản xuất tài sản trí tuệ lõi trọng điểm và sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm, đưa các hoạt động này vào danh mục ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư.

Các dự án đáp ứng điều kiện sẽ được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt về thuế TNDN và đất đai. Doanh nghiệp thực hiện dự án sản xuất tài sản trí tuệ lõi và sản phẩm trọng điểm cũng được đề xuất áp dụng chế độ ưu tiên theo pháp luật về hải quan, qua đó tối ưu hóa quy trình sản xuất, xuất nhập khẩu.

Dự án Luật cũng đề xuất chính sách thu hút nhà đầu tư chiến lược nước ngoài có năng lực về sở hữu trí tuệ quốc tế, công nghệ lõi và mạng lưới phân phối toàn cầu, đi kèm cam kết khai thác, phát triển tài sản trí tuệ Việt Nam và chuyển giao công nghệ.

Theo đề xuất, nhà đầu tư chiến lược đáp ứng các điều kiện sẽ được hưởng gói ưu đãi thuế TNDN miễn thuế 2 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 4 năm tiếp theo.

Các chuyên gia thuộc nhóm nhà đầu tư chiến lược cũng được đề xuất hưởng ưu đãi về TNCN. Bên cạnh đó là cơ chế “một cửa” và hỗ trợ chi phí cho các đoàn quay phim tại Việt Nam, các sự kiện văn hóa quốc tế.

Đối với các cơ sở công nghiệp văn hóa công cộng hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, dự án Luật đề xuất xây dựng chính sách ưu đãi phù hợp, gắn với việc cung cấp dịch vụ công và cam kết tái đầu tư phần thu nhập không chia để tiếp tục phát triển ngành công nghiệp văn hóa.

Dự án Luật đề xuất sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 12 Luật Thuế TNDN số 67/2025/QH15 theo hướng bổ sung doanh nghiệp công nghiệp văn hóa và dự án đầu tư mới trong ngành công nghiệp văn hóa thuộc Danh mục ưu tiên vào đối tượng được hưởng ưu đãi thuế TNDN.

Sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 5 Luật Thuế TNCN để giảm 50% thuế thu nhập cá nhân đối với chuyên gia, nghệ sĩ, nhân lực chất lượng cao là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài làm việc trong ngành công nghiệp văn hóa tại Việt Nam, theo quy định tại Điều 21 và Điều 47 của Luật này.

An Nhiên

Nguồn TCDN: https://taichinhdoanhnghiep.net.vn/de-xuat-mien-giam-thue-tndn-tncn-de-phat-trien-cong-nghiep-van-hoa-d68895.html