Đề xuất phân nhóm người nộp thuế, đơn giản hóa thủ tục khai thuế thu nhập cá nhân

Bộ Tài chính đề xuất phân nhóm người nộp thuế trong quản lý thuế, đơn giản hóa thủ tục khai thuế thu nhập cá nhân,... tại Dự thảo Thông tư về hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế.

Cụ thể, Bộ Tài chính đang lấy ý kiến rộng rãi về Dự thảo Thông tư Quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế; biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ. Theo đó, Bộ Tài chính đề xuất phương án phân nhóm người nộp thuế trong quản lý thuế, đơn giản hóa thủ tục khai thuế thu nhập cá nhân,...

Dự thảo Thông tư gồm 10 Chương và 105 Điều

Chương I. Những quy định chung, gồm 06 Điều (từ Điều 1 đến Điều 6).

Chương II. Giao dịch điện tử trong quản lý thuế, gồm 10 Điều (từ Điều 7 đến Điều 16).

Chương III. Khai, tính thuế, các khoản thu khác, gồm 16 Điều (từ Điều 17 đến Điều 34).

Chương IV. Nộp thuế, gia hạn nộp thuế và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước; xử lý tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt, gồm 10 Điều (từ Điều 35 đến Điều 45).

Chương V. Thủ tục hoàn thuế, gồm 23 Điều (từ Điều 46 đến Điều 68).

Chương VI. Miễn thuế, giảm thuế; nộp dần tiền thuế; khoanh tiền thuế nợ; xóa tiền thuế nợ, gồm 22 Điều (từ Điều 69 đến Điều 90).

Chương VII. Kiểm tra thuế, gồm 04 Điều (từ Điều 91 đến Điều 94).

Chương VIII. Kết nối, trao đổi thông tin, dữ liệu giữa cơ quan thuế với các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, tổ chức, cá nhân trong tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính thuế bằng phương thức điện tử, gồm 04 Điều (từ Điều 95 đến Điều 98).

Chương IX. Một số vấn đề khác, gồm 04 Điều (từ Điều 99 đến Điều 102).

Chương X. Điều khoản thi hành, gồm 03 Điều (từ Điều 103 đến Điều 105).

Phân nhóm người nộp thuế trong quản lý thuế

Điều 4 dự thảo Thông tư quy định về phân nhóm người nộp thuế trong quản lý thuế nhằm cụ thể hóa quy định tại Điều 3 của Luật Quản lý thuế.

Luật Quản lý thuế đã đặt ra nguyên tắc chuyển dần từ phương thức quản lý đồng loạt sang phương thức quản lý dựa trên phân tích dữ liệu và quản lý rủi ro. Trong bối cảnh số lượng người nộp thuế ngày càng lớn, quy mô và tính chất hoạt động đa dạng, việc phân nhóm là cần thiết để cơ quan thuế tổ chức quản lý theo từng nhóm đối tượng, qua đó phân bổ nguồn lực quản lý phù hợp với mức độ rủi ro và quy mô của người nộp thuế; tăng cường hỗ trợ, tạo thuận lợi cho người nộp thuế có mức độ tuân thủ tốt; tập trung kiểm soát, giám sát đối với các trường hợp có rủi ro cao về thuế; nâng cao hiệu quả quản lý thuế và giảm chi phí tuân thủ. Cụ thể, Điều 4 Dự thảo đã phân người nộp thuế thành nhiều nhóm:

4 tiêu chí phân nhóm người nộp thuế

Căn cứ mục đích quản lý quy định tại khoản 1 Điều này, Cơ quan thuế xác định các tiêu chí phân nhóm người nộp thuế theo các đặc điểm tương đồng về địa bàn, quy mô, ngành nghề hoạt động sản xuất kinh doanh như sau:

a) Theo phạm vi địa bàn hoạt động, đăng ký thuế của người nộp thuế;

b) Theo loại người nộp thuế, gồm: người nộp thuế là tổ chức, doanh nghiệp; người nộp thuế là hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh và cá nhân phát sinh nghĩa vụ thuế với ngân sách nhà nước; và người nộp thuế là các tổ chức, loại người nộp thuế khác;

c) Theo quy mô hoạt động của người nộp thuế như giá trị doanh thu, số nộp ngân sách nhà nước, quy mô vốn, tài sản, lao động và số lượng đơn vị phụ thuộc, địa điểm kinh doanh;

d) Theo ngành nghề sản xuất kinh doanh, lĩnh vực và phương thức hoạt động, và đặc điểm nghĩa vụ thuế phát sinh gắn với hoạt động đó, gồm: hoạt động sản xuất, thương mại, dịch vụ, vận tải, tài chính (ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, ...), xây lắp, bất động sản; hoặc thương mại điện tử, kinh doanh trên nền tảng số; giao dịch xuyên biên giới và các lĩnh vực khác theo mục đích quản lý của cơ quan thuế;

Xếp hạng người nộp thuế theo mức độ tuân thủ pháp luật về thuế và mức độ rủi ro về thuế

Trên cơ sở tiêu chí phân nhóm người nộp thuế theo quy định tại khoản 2 Điều này, Cơ quan thuế thực hiện phân tích dữ liệu, thông tin của người nộp thuế để đánh giá, xếp hạng người nộp thuế theo mức độ tuân thủ pháp luật về thuế và mức độ rủi ro về thuế, gồm:

a) Mức độ tuân thủ pháp luật về thuế và lịch sử tuân thủ trong các khâu như đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế; tình trạng nợ thuế; kết quả kiểm tra thuế; việc chấp hành quyết định của cơ quan thuế;

b) Mức độ rủi ro về thuế trong sử dụng hóa đơn điện tử, hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, xác định nghĩa vụ thuế và các tiêu chí rủi ro phát sinh từ yêu cầu quản lý thuế trong từng thời kỳ;

4 nhóm người nộp thuế theo phân loại tuân thủ

c) Với các phân nhóm người nộp thuế, cơ quan thuế áp dụng các biện pháp quản lý phù hợp với các mức độ rủi ro và phân loại tuân thủ (tuân thủ tốt, tuân thủ trung bình, tuân thủ thấp bao gồm cả trường hợp không tuân thủ):

c.1) Người nộp thuế tuân thủ tốt, rủi ro thấp được áp dụng chế độ ưu tiên trong quản lý thuế theo quy định;

c.2) Người nộp thuế tuân thủ trung bình, rủi ro thấp hoặc trung bình được áp dụng các chương trình hỗ trợ tuân thủ của cơ quan thuế, các biện pháp tuyên truyền, hỗ trợ, hướng dẫn, đào tạo nhằm nâng cao mức độ tuân thủ tự nguyện;

c.3) Người nộp thuế tuân thủ thấp hoặc rủi ro cao được áp dụng biện pháp cảnh báo, giám sát, theo dõi để phòng ngừa rủi ro phát sinh;

c.4) Người nộp thuế tuân thủ thấp và rủi ro cao thuộc đối tượng áp dụng các biện pháp quản lý như kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế và các biện pháp cưỡng chế theo quy định (nếu có), bao gồm các biện pháp phối hợp với các cơ quan chức năng theo quy định.

Cắt giảm thủ tục hành chính trong kê khai thuế thu nhập cá nhân

Điều 23 của Dự thảo Thông tư cũng đã có nhiều điểm khác biệt về kê khai thuế thu nhập cá nhân. Cụ thể:

Sửa đổi, bổ sung theo định hướng cắt giảm thủ tục hành chính, giải quyết các vướng mắc phát sinh trên thực tế về kê khai, quyết toán thuế, phân bổ thuế thu nhập cá nhân. Cụ thể:

Giảm tần suất kê khai thuế thu nhập cá nhân trong năm, chuyển từ kê khai theo tháng hoặc quý sang kê khai theo quý.

Sửa đổi quy định về phân bổ thuế thu nhập cá nhân theo hướng tổ chức, cá nhân trả thu nhập được chủ động lựa chọn hình thức kê khai tập trung tại trụ sở chính và xác định số thuế thu nhập cá nhân phải nộp của từng địa điểm kinh doanh, đơn vị phụ thuộc hoặc kê khai riêng cho từng địa điểm kinh doanh, đơn vị phụ thuộc. Quy định này đảm bảo người nộp thuế chủ động lựa chọn, linh hoạt về hình thức kê khai./.

Chi tiết Dự thảo Thông tư Quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế

Nguồn Chính Phủ: https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/de-xuat-phan-nhom-nguoi-nop-thue-don-gian-hoa-thu-tuc-khai-thue-thu-nhap-ca-nhan-119260604122039049.htm