Đề xuất tính thuế khoáng sản kim loại dựa trên sản phẩm đầu ra

Bộ Tài chính đề xuất chuyển đổi sang phương pháp tính thuế đối với khoáng sản kim loại dựa trên sản phẩm đầu ra (doanh thu của từng loại khoáng sản thương phẩm thuộc đối tượng chịu thuế) kết hợp với biểu thuế suất lũy tiến, lũy thoái theo cấp độ chế biến.

Doanh nghiệp chế biến sâu, thuế suất thấp

Bộ Tài chính đang lấy ý kiến dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế tài nguyên trong đó bổ sung cách xác định thuế tài nguyên đối với tài nguyên là khoáng sản kim loại.

Luật Thuế tài nguyên hiện hành quy định, khoáng sản qua chế biến mới bán ra, tính thuế theo khoáng sản đầu vào, có nghĩa là sản lượng khoáng sản nguyên khai tính thuế được quy đổi từ sản phẩm sau chế biến (dùng định mức sử dụng tài nguyên để quy đổi); Giá tính thuế là giá bán sản phẩm trừ (–) chi phí của khâu chế biến, sàng tuyển; thuế suất áp dụng 01 mức không chia theo mức độ chế biến khoáng sản.

Theo Bộ Tài chính, cơ chế quy đổi cơ học này đã vô tình làm mất đi khả năng nhận diện và bóc tách các nấc thang gia tăng giá trị. Do sắc thuế chỉ “nhìn thấy” quặng thô đầu vào mà đánh đồng toàn bộ hàm lượng công nghệ ở đầu ra. Theo đó, Luật Thuế tài nguyên hiện hành khó có thể sử dụng công cụ thuế suất để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ khai thác, chế biến tiên tiến, hiện đại.

 (Ảnh minh họa)

(Ảnh minh họa)

Để tháo gỡ hạn chế này, Bộ Tài chính đề xuất chuyển đổi sang phương pháp tính thuế đối với khoáng sản kim loại dựa trên sản phẩm đầu ra (doanh thu của từng loại khoáng sản thương phẩm thuộc đối tượng chịu thuế) kết hợp với biểu thuế suất lũy tiến, lũy thoái theo cấp độ chế biến.

Cụ thể, doanh thu bán từng sản phẩm x Thuế suất lũy thoái theo mức độ chế biến. Việc thay đổi phương pháp luận tính thuế theo doanh thu đầu ra cho phép hệ thống quản lý thuế nhận diện rõ ràng, minh bạch từng loại sản phẩm và phân định chính xác các cấp độ chế biến sâu trong chuỗi giá trị.

“Trên cơ sở đó, nhà nước sẽ có đủ dư địa và không gian chính sách để hiện thực hóa chủ trương của Đảng tại Nghị quyết số 10-NQ/TW thông qua việc sử dụng công cụ thuế suất làm đòn bẩy kinh tế: sản phẩm khoáng sản càng được ứng dụng công nghệ cao để chế biến sâu, tinh khiết thì thuế suất áp dụng càng thấp”, Bộ Tài chính cho hay.

Cũng theo Bộ Tài chính, không chỉ dừng lại ở việc tạo động lực kinh tế, việc đổi mới phương pháp tính thuế dựa trên doanh thu đầu ra còn loại bỏ hoàn toàn các thủ tục quy đổi phức tạp, vốn thường tạo ra những cách hiểu khác nhau về việc xác định sản lượng thô và tỷ lệ tổn thất hàm lượng sau chế biến. Đặc biệt, đối với quặng đa kim phức tạp chứa nhiều thành phần kim loại và khoáng sản đi kèm, việc thu thuế dựa trên doanh thu thương phẩm đầu ra của từng chất sẽ giúp cơ quan quản lý định lượng chính xác giá trị thực tế của từng loại tài nguyên được thu hồi. Quy định này vừa khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ chế biến tiên tiến, hiện đại, vừa tạo sự minh bạch, giảm chi phí tuân thủ pháp luật và loại bỏ rủi ro pháp lý cho các doanh nghiệp đầu tư bài bản.

Việc thay đổi phương pháp tính thuế đầu ra cũng sẽ xử lý được những vướng mắc thời gian qua trong việc xác định sản lượng tính thuế và hàm lượng của từng loại khoáng sản sau khi quy đổi từ sản phẩm sau chế biến về tài nguyên trước khi chế biến, cũng như xác định giá tính thuế tài nguyên đối với từng loại khoáng sản có trong quặng đa kim.

Xây dựng biểu thuế lũy tiến và quy định thời điểm xác định thuế

Dự thảo cũng bổ sung quy định cách xác định doanh thu tính thuế nhằm đồng bộ, đảm bảo cho phương pháp tính thuế tài nguyên dựa trên doanh thu đầu ra và biểu thuế suất lũy tiến vận hành một cách khả thi, minh bạch. Hệ thống quy định đồng bộ này không chỉ bảo vệ nguồn thu ngân sách nhà nước trước các hành vi lợi dụng chính sách, mà còn kiến tạo một môi trường pháp lý minh bạch, bình đẳng, giúp các doanh nghiệp khai thác khoáng sản chân chính yên tâm đầu tư công nghệ dài hạn.

Bộ Tài chính chỉ rõ, khi doanh nghiệp chế biến khoáng sản kim loại thành các sản phẩm công nghiệp cuối cùng (ví dụ: từ quặng sắt luyện thành sắt, thép, gang; đồng luyện thành dây cáp điện…) rồi mới bán ra. Các sản phẩm này không còn là “khoáng sản” thuộc đối tượng chịu thuế tài nguyên nữa.

Quy định xác định doanh thu đối với trường hợp sản phẩm bán ra đã vượt quá phạm vi đối tượng chịu thuế tài nguyên là giải pháp cần thiết để phân định rõ ràng biên giới giữa thuế tài nguyên và thuế sản xuất thông thường (thuế giá trị gia tăng), giữ đúng bản chất của thuế tài nguyên (đánh vào việc tiêu hao tài nguyên quốc gia), không lấn sang thuế giá trị gia tăng của ngành công nghiệp chế biến chế tạo, bảo vệ quyền lợi chính đáng và khuyến khích doanh nghiệp đi đến tận cùng của chuỗi chế biến sâu.

Bên cạnh đó, trong thực tiễn phát sinh trường hợp Công ty khai thác bán khoáng sản (quặng thô, quặng tinh) cho một công ty con hoặc công ty liên kết trong cùng tập đoàn với mức giá “nội bộ”. Việc thiết lập quy tắc áp dụng nguyên tắc giá thị trường độc lập đối với giao dịch liên kết là công cụ hữu hiệu nhằm ngăn chặn triệt để hiện tượng chuyển giá nội bộ, không để các tập đoàn lợi dụng chính sách làm xói mòn cơ sở thuế.

Ngoài ra, nhằm tránh trường hợp các doanh nghiệp có thể thỏa thuận mua bán hàng thấp hơn hẳn so với mặt bằng chung tại địa phương để mục đích trốn thuế, việc quy định sử dụng Bảng giá tài nguyên UBND cấp tỉnh ban hành làm sàn giá tối thiểu (Giá sàn) để quản lý rủi ro. Cơ chế sử dụng bảng giá của UBND cấp tỉnh làm chốt chặn tối thiểu sẽ tạo ra một bộ lọc rủi ro hành chính hữu hiệu đối với những giao dịch doanh nghiệp kê khai doanh thu thấp bất thường.

Bên cạnh việc đổi mới phương pháp tính thuế theo doanh thu đầu ra và hệ thống thuế suất lũy tiến, Bộ Tài chính cho rằng việc bổ sung quy định về thời điểm xác định thuế tài nguyên là điều kiện tiên quyết để đảm bảo tính khả thi và chặt chẽ của những nội dung về chính sách được bổ sung.

Đối với các trường hợp thông thường, việc xác định thời điểm tính thuế tài nguyên trùng khớp với thời điểm xác định thuế giá trị gia tăng giúp đồng bộ hóa dữ liệu hóa đơn điện tử, tạo điều kiện để cơ quan thuế kiểm tra đối chiếu tự động, đồng thời giảm thiểu tối đa chi phí tuân thủ sổ sách kế toán cho doanh nghiệp hoạt động chân chính.

Đối với trường hợp đặc thù khi sản phẩm chế biến sâu đầu ra không còn thuộc đối tượng chịu thuế tài nguyên, Bộ Tài chính đề xuất chọn mốc thời gian là thời điểm phát sinh hoạt động đưa quặng tinh vào chế biến. Đây là thời điểm tiêu dùng nội bộ của doanh nghiệp cho các hoạt động sản xuất tiếp theo. Quy định này thiết lập một “điểm dừng pháp lý” hợp lý khi khoáng sản dịch chuyển trạng thái vật lý - hóa học, giúp cơ quan quản lý định lượng chính xác nghĩa vụ thuế tại nấc thang tinh chế cuối cùng. Điều này vừa triệt tiêu rủi ro găm giữ, trì hoãn nộp thuế tài nguyên dưới bóng bọc sản xuất nội bộ, vừa đảm bảo sự minh bạch, công bằng trong việc áp dụng biểu thuế suất về điều tiết mức thuế theo đúng hàm lượng công nghệ của sản phẩm.

Về quy định áp dụng thuế suất của loại khoáng sản có mức cao nhất trong trường hợp hàng hóa bán ra chứa nhiều loại khoáng sản khác nhau, theo Bộ Tài chính, trong tự nhiên, khoáng sản kim loại rất hiếm khi tồn tại đơn chất mà thường nằm trong cấu trúc quặng đa kim phức tạp như tinh quặng đồng có thể chứa cả vàng, bạc, chì, kẽm; hoặc quặng sắt đi kèm với titan, bauxit. Phụ thuộc vào công nghệ chế biến, sản phẩm chế biến (đầu ra) có thể là từng chất hoặc nhiều chất.

Quy định áp dụng thuế suất này tạo thuận lợi cho doanh nghiệp kê khai, nộp thuế, không phải bóc tách doanh thu của từng loại khoáng sản, vừa giúp cơ quan thuế đơn giản trong hoạt động quản lý thuế, qua đó giúp đơn giản hóa tối đa thủ tục hành chính, loại bỏ các quy trình phân bổ giá trị phức tạp dễ phát sinh tiêu cực và tranh chấp kỹ thuật.

Đồng thời, quy định này còn tạo ra một áp lực kinh tế trực tiếp, buộc các doanh nghiệp phải từ bỏ tư duy khai thác thô, chuyển sang đầu tư nghiêm túc vào công nghệ tách luyện hiện đại để phân tách tinh khiết từng loại khoáng sản đầu ra nhằm tối ưu hóa nghĩa vụ thuế.

Dự thảo đề xuất bổ sung Điều 7a. Thuế tài nguyên đối với khoáng sản kim loại:

1. Căn cứ tính thuế tài nguyên là doanh thu bán từng loại khoáng sản thuộc đối tượng chịu thuế (nguyên khai; quặng tinh hoặc khoáng sản đi kèm) và thuế suất.

2. Doanh thu tính thuế tài nguyên là toàn bộ tiền bán hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền, nhưng không thấp hơn doanh thu tính theo giá tính thuế do UBND cấp tỉnh quy định tương ứng, trừ một số trường hợp cụ thể sau:

a) Trường hợp hàng hóa bán ra không thuộc đối tượng chịu thuế tài nguyên thì doanh thu để tính thuế tài nguyên được xác định bằng sản lượng quặng tinh được sử dụng vào trong chế biến nhân với giá tính thuế do UBND cấp tỉnh quy định tương ứng với từng loại quặng tinh.

b) Trường hợp hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế được mua bán giữa các bên có giao dịch liên kết theo pháp luật về quản lý thuế thì doanh thu để tính thuế tài nguyên được xác định bằng sản lượng hàng hóa chịu thuế nhân với giá tính thuế do UBND cấp tỉnh quy định tương ứng với từng loại hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế.

c) Trường hợp doanh thu tính thuế thấp hơn doanh thu tính theo giá tính thuế do UBND cấp tỉnh quy định tương ứng, thì doanh thu để tính thuế tài nguyên được xác định bằng sản lượng hàng hóa chịu thuế nhân với giá tính thuế do UBND cấp tỉnh quy định tương ứng với từng loại hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế.

3. Thuế suất thực hiện theo quy định của Chính phủ. Trường hợp hàng hóa bán ra chứa nhiều loại khoáng sản khác nhau thì áp dụng thuế suất của loại khoáng sản có mức cao nhất.

4. Thời điểm xác định thuế tài nguyên là thời điểm xác định thuế giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật thuế giá trị gia tăng.

Riêng trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều này thì thời điểm xác định thuế tài nguyên là thời điểm phát sinh hoạt động đưa quặng tinh vào chế biến.

5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này”.

An Nhiên

Nguồn TCDN: https://taichinhdoanhnghiep.net.vn/de-xuat-tinh-thue-khoang-san-kim-loai-dua-tren-san-pham-dau-ra-d68266.html