Đêm mồng Một Tết và hai vị khách Đan Mạch
Khách nước ngoài đến Huế ngày càng đông, nhiều người muốn tìm hiểu về Việt Nam và văn hóa Á Đông
Mồng Một Tết. Huế se lạnh.
Cái lạnh đầu năm ở Huế không buốt, chỉ vừa đủ để người ta khẽ co vai trong chiếc áo mỏng, vừa đủ để thấy mình đang bước sang một nhịp mới của thời gian. Tôi từ Đà Nẵng về ăn Tết với mẹ như một đứa con vẫn quen tìm về căn nhà cũ mỗi độ xuân về.
Chiều ấy, cả nhà đi chơi Đại Nội. Thành nội Huế những ngày đầu năm đông hơn thường lệ, nhưng vẫn giữ được vẻ trầm mặc rất riêng. Tối về, sau bữa cơm gia đình, tôi đang ngồi nghỉ thì mẹ tôi – năm nay 74 tuổi – xách túi rác ra đầu ngõ. Chừng mười phút sau, mẹ mở cửa bước vào… cùng hai bạn trẻ người nước ngoài.
Tôi còn chưa kịp hỏi, mẹ đã cười hồn nhiên:
"Mẹ gặp ngoài đường đó. Họ hỏi đường chi đó, nên mẹ mời vô nhà chơi. Mẹ nói nhà mình có đứa con giỏi tiếng Anh lắm!"
Hai bạn đến từ Đan Mạch. Lucas 27 tuổi, vừa tốt nghiệp Đại học Copenhagen ngành Kinh tế và Công nghệ thông tin; Sara 25 tuổi, cũng mới tốt nghiệp đại học ngành xã hội học tại Copenhagen, Đan Mạch. Họ dành vài tháng nghỉ ngơi, khám phá thế giới trước khi học tiếp thạc sĩ. Hành trình bắt đầu từ Philippines, qua Campuchia, rồi vào Việt Nam: Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Lạt, Đà Nẵng, Hội An, Huế. Sau bốn ngày ở Huế, họ sẽ tiếp tục ra Hà Nội, Vịnh Hạ Long, Hà Giang trước khi bay sang Trung Quốc và Hàn Quốc.

Ảnh chụp hai du khách Đan Mạch Lucas và Sara ngày mồng 1 Tết tại Huế.
Đêm mồng Một, phố xá Huế đã thưa người. Họ đang đi dạo thì gặp mẹ tôi. Một người phụ nữ Việt Nam tóc đã bạc quá nửa, nói tiếng Anh không nhiều nhưng luôn nở nụ cười thân thiện. Biết các bạn chưa ăn tối, mẹ dọn bánh chưng, nem rán, mứt Tết, bánh kem ra mời. Các bạn ngạc nhiên hơn nữa khi biết hôm đó cũng là sinh nhật tôi. Thế là sinh nhật năm nay có thêm hai vị khách quốc tế – một cuộc gặp hoàn toàn tình cờ.
Chúng tôi nói chuyện từ 19 giờ đến gần 23 giờ. Câu chuyện bắt đầu từ Tết Việt Nam, về ý nghĩa của bánh chưng, món ăn không thể thiếu trong ngày Tết; về phong tục chúc Tết, xông đất; về cách người Việt Nam đón năm mới với sự trang nghiêm và ấm áp. Chúng tôi kể về những món ăn Việt Nam vừa gần gũi như: phở, bún bò Huế, những món dân dã trong từng con hẻm nhỏ. Rồi nói về lịch sử dân tộc, một đất nước nhỏ bé đã đi qua nhiều biến động lịch sử song luôn giữ được bản sắc và ý chí tự cường.
Lucas và Sara lắng nghe chăm chú. Họ kể về Đan Mạch, nơi có mùa đông dài và lạnh, nơi hệ thống phúc lợi xã hội cho người dân luôn đủ đầy. Với họ, ấn tượng nhất về Việt Nam không phải danh lam thắng cảnh hay ẩm thực mà là trải nghiệm đêm nay: đang đi ngoài đường lại được một gia đình không hề quen biết mời vào nhà ăn uống, trò chuyện đến tận khuya như những người quen lâu ngày.
Tôi ngồi nhìn mẹ mình. Một người phụ nữ 74 tuổi, từng là giáo viên tiểu học, không nói được nhiều tiếng Anh nhưng đủ ấm áp để mời hai vị khách lạ vào nhà ngày đầu năm.
Khoảnh khắc ấy khiến tôi chợt nhớ lại hơn 30 năm trước.
Năm 1995, khi đất nước đang trong giai đoạn đổi mới và hội nhập mạnh mẽ, gia đình tôi mở một nhà hàng nhỏ gần cầu Trường Tiền, bên bờ nam sông Hương. Khi ấy tôi học lớp 7, em gái tôi mới 5 tuổi. Bố tôi là cán bộ quân đội về hưu, mẹ là giáo viên tiểu học. Việc mở nhà hàng là một bước đi táo bạo trong bối cảnh du lịch Việt Nam bắt đầu đón nhiều khách quốc tế hơn sau khi bình thường hóa quan hệ với Mỹ.
Mọi thứ đều mới mẻ. Khách nước ngoài đến Huế ngày càng đông, nhiều người muốn tìm hiểu về Việt Nam và văn hóa Á Đông. Nhà hàng của gia đình tôi nhỏ thôi, nhưng luôn ấm ánh đèn đã trở thành nơi giao thoa văn hóa theo cách rất giản dị. Bố tôi từng nhờ chính các vị khách vào bếp hướng dẫn cách làm sandwich, spaghetti, salad, sinh tố, những món ăn tưởng như quen thuộc với họ lại hoàn toàn mới với gia đình tôi thời bấy giờ. Mẹ tôi ghi chép cẩn thận, học hỏi từng chút một để món ăn vừa hợp khẩu vị khách vừa giữ được nét Việt.
Nhờ nhà hàng ấy, anh em tôi được tiếp xúc với khách nước ngoài từ rất sớm. Em gái tôi mới 5 tuổi đã bắt đầu bập bẹ nói tiếng Anh. Tôi mê bóng đá, thuộc tên cầu thủ của các đội tuyển châu Âu. Mỗi khi khách Tây vào quán, tôi thường chủ động bắt chuyện, nói sai cũng không ngại. Họ quý mến, tặng tôi áo đấu của các câu lạc bộ nổi tiếng: PSG, Real Madrid, Barcelona, Liverpool, Manchester United, Bayern Munich với những tấm hình màu của Ronaldo, Zidane, Baggio, Maldini…, những thứ mà thời ấy tôi nằm mơ cũng không dám nghĩ sẽ có ảnh đẹp của họ…
Tiếng Anh, với tôi, không còn là môn học trong sách giáo khoa. Nó là cây cầu. Nhờ nó, tôi có thể hỏi han, lắng nghe, và kết bạn. Nhờ nó, thế giới không còn xa lạ. Nhà hàng nhỏ ấy không chỉ mang lại thu nhập cho gia đình, mà còn mang lại cho chúng tôi những người bạn mới, mở ra những cơ hội, những tư duy mới mẻ, những giấc mơ mà nếu không có "cửa mở" năm 1995, có lẽ chúng tôi khó lòng chạm tới.
Tối mồng Một năm nay vì thế không chỉ là một sự tình cờ. Nó là sự tiếp nối từ nhà hàng nhỏ bên sông Hương ba mươi năm trước đến căn nhà bình dị nơi mẹ tôi sống hôm nay. Đó là sợi dây của sự cởi mở, lòng hiếu khách vẫn còn nguyên vẹn đã có từ nhiều năm trước.
Mẹ tôi không làm điều gì đặc biệt. Bà chỉ làm điều mà bà tin là đúng: thấy người lạ thì hỏi han, thấy khách thì mời vào nhà, thấy chưa ăn thì mời ăn.
Khi Lucas và Sara đứng dậy chào ra về, họ cảm ơn mẹ tôi bằng tiếng Việt chậm rãi và bằng cả những cái ôm chân thành. Tôi tiễn họ ra cửa. Con ngõ nhỏ của Huế vẫn yên tĩnh như lúc đầu. Chỉ có điều, tôi biết mình vừa trải qua một sinh nhật khác mọi năm.
Và tôi nhận ra tiếng Anh có thể giúp ta nói chuyện với thế giới. Nhưng sự tử tế chân thành mới là điều khiến thế giới muốn lắng nghe và quay trở lại. Những cánh cửa lớn của hội nhập đôi khi bắt đầu từ những cánh cửa nhỏ của mỗi gia đình. Và có lẽ, trong một thế giới nhiều biến động, chính những cuộc gặp gỡ bất ngờ như thế lại góp phần làm nên hình ảnh một Việt Nam thân thiện, cởi mở và giàu lòng hiếu khách.
Nguồn NLĐ: https://nld.com.vn/dem-mong-mot-tet-va-hai-vi-khach-dan-mach-196260222095615844.htm












