Đèn bão, guốc mộc và ký ức cụ Huỳnh ở làng Phú Bình
Cụ Huỳnh Thúc Kháng từng sống tại làng Phú Bình, ngôi làng yên bình, rợp bóng tre xanh, đêm về hắt hiu bóng đèn mù u.

Ông Nguyễn Trượng từng kể nhiều câu chuyện về cụ Huỳnh Thúc Kháng. Ảnh: LÊ VĂN CHƯƠNG
Cụ Huỳnh Thúc Kháng qua đời vào ngày 21/4/1947 tại thôn Phú Bình, xã Hành Phong, nay thuộc xã Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Khung cảnh xã Hành Phong gần 80 năm trước là những ngôi nhà tranh vách đất thấp thoáng dưới những lũy tre ken dày, đêm về ánh đèn trong những ngôi nhà này được đốt từ quả mù u phơi khô. Đèn không đặt trên bàn thờ, vì thời đó chưa có bàn, người ta chỉ đan sạp tre, sau đó trải chiếc chiếu nhỏ làm nơi thờ cúng.
Về những kỷ vật của cụ Huỳnh
Tìm về nhà lưu niệm tại xã Nghĩa Hành, nơi cụ Huỳnh Thúc Kháng từng sống và hoạt động cách mạng, du khách dừng chân, lặng người trước mái nhà tranh vách đất đơn sơ.
Cách đây gần 80 năm, phần lớn những ngôi nhà của bà con ở làng quê nghèo này đều được làm giống như ngôi nhà này. Tường trét đất, mái lợp tranh, nền đất nện. Trong ngôi nhà lưu niệm vẫn lưu giữ bộ guốc gỗ 2 quai của cụ. Thời đó không có âm thanh của máy móc, xe máy, nếu lắng nghe âm thanh thì chỉ có tiếng guốc vang lên trong những ngôi nhà tranh.
Cụ Nguyễn Trượng (sinh năm 1936), người dân trong làng, nói rằng thời đó người ta muốn có guốc mang thì xúm nhau đẽo gốc tre, gỗ mít. Dễ làm nhất là đẽo gốc cây sầu đông. Các cụ hay mang guốc gốc tre, có người cầu kỳ thì đẽo cho đầu guốc cong lên như đôi hia của quan lại trong triều đình. Phần lớn mọi người đều đi bộ, chỉ có vài người là giáo viên, phú nông, thầy lang thì mới có tiền để ngồi xe kéo.
Tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 84 (ngày 29/5/1946), quy định cấm hoàn toàn việc sử dụng xe kéo, vì đây là một hình ảnh có tính bóc lột, biến con người thành con vật. Tại chợ Chùa năm 1947, những chiếc xe kéo cũng dần dần biến mất. Giá đi xe từ chợ Chùa xuống tới thị xã Quảng Ngãi (10km) tương đương 2 lon gạo. Cha của ông Trượng kể với con về việc từ khi có cụ Huỳnh, quy định cấm xe kéo được thực hiện.
Trong ngôi nhà lưu niệm của cụ Huỳnh còn lưu giữ chiếc đèn bão, có nguồn gốc thiết kế từ Pháp, gọi là Lanterne de tempête. Đèn có tay xách, bao quanh là mặt kính để chống bị gió lùa. Cách đây 80 năm, chiếc đèn này có lẽ là hiện đại nhất ở làng Phú Bình.

Guốc mộc, đèn bão... những vật dụng của cụ Huỳnh tại Nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng. Ảnh: LÊ VĂN CHƯƠNG
Trong kho tư liệu về cụ Huỳnh Thúc Kháng có các hình ảnh chụp cụ đứng cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Chính phủ, hay hình ảnh cụ mặc bộ quần áo bà ba giản dị khi kinh lý miền Trung, ảnh chụp cụ ngồi tại bàn làm việc ở tòa soạn báo Tiếng Dân tại Huế, xung quanh là sách vở, giấy tờ và bút mực… Nhưng nhìn chiếc đèn dầu này, mọi người hình dung ra được một phần cuộc sống của cụ Huỳnh vào những năm cuối đời tại ngôi làng rợp bóng tre xanh.
Thời Pháp thuộc, dân ở làng Phú Bình chủ yếu thắp đèn bằng xâu quả mù u khô. Để có nguồn nguyên liệu thắp sáng, nhà nào cũng trồng trong vườn thật nhiều cây mù u để ép dầu thắp đèn, hoặc đốt quả mù u trong lúc ăn cơm tối. Những gia đình có điều kiện mới có tiền thắp đèn bằng dầu phụng, dầu hỏa.
Trong trí nhớ của ông Trượng, thỉnh thoảng nghe khách và cha nói chuyện ngoài sân có nhắc tới cụ Huỳnh. Lúc đó cụ Huỳnh, ông Phạm Văn Đồng đang là cán bộ Trung ương chỉ đạo tại địa phương. Chủ đề về chiếc xe kéo bị cấm cũng được mọi người đưa ra bàn luận.
Và rồi vào đêm 21/4/1947, ngôi nhà nơi cụ Huỳnh ở có thêm nhiều ánh đèn sáng. Ngoài chiếc đèn bão treo trong nhà còn có những chiếc đèn dầu mù u, dầu phụng được thắp sáng. Đêm đó, các ông cán bộ xã lo việc tang lễ cho cụ Huỳnh. Các ông lên nhà bà Hương Thừa, một gia đình khá giả ở thôn Đông Trúc, xã Hành Nhân, nằm cạnh sông Phước Giang để mượn bộ ván bằng gỗ huỳnh đàn mang về đóng quan tài.
Rước ảnh cụ Huỳnh
Cụ Võ Duy Chúc (sinh năm 1936), người dân địa phương, nhớ lại: dịp cụ Huỳnh mất, người dân trong làng và trẻ con chạy ra trục đường từ làng Phú Bình xuống thị xã Quảng Ngãi để viếng đám tang cụ Huỳnh.
Lúc đó mới là cậu bé hơn 10 tuổi, nhưng cụ Chúc vẫn nhớ như in một đoàn người rất đông đi đưa tang. Nhóm người đi đầu khiêng một tấm ảnh được vẽ trên nền vải, ảnh chân dung cụ Huỳnh đeo kính, đầu đội khăn đóng, áo dài đen.
Họa sĩ Trần Cung vẽ chân dung của cụ Huỳnh sử dụng cách vẽ nét thẳng, đường nét của bức tranh rất sống động, bức tranh có chiều dài khoảng 4m, chiều ngang khoảng 3m. Đoàn người bước đi chầm chậm, bức tranh cụ Huỳnh rất to nên nhìn đám tang rất trang trọng.
Thời điểm cụ Huỳnh Thúc Kháng tới làm việc tại Quảng Ngãi, địa phương này là vùng tự do của Liên khu 5 (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên). Lúc đó Pháp lăm le ở 3 hướng: Đà Nẵng, Đèo Cả (giáp ranh Phú Yên - Khánh Hòa) và Đèo An Khê (giáp ranh giữa Bình Định và Gia Lai). Năm đó, chính quyền ở vùng tự do bắt đầu loại dần tiền do Ngân hàng Đông Dương của Pháp phát hành ra khỏi hệ thống và phát hành tiền Tín phiếu. Loại tiền này dừng lưu hành khi vĩ tuyến 17 ra đời.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/den-bao-guoc-moc-va-ky-uc-cu-huynh-o-lang-phu-binh-3353672.html
