Dệt may vượt 'ải' ESPR của EU - Phần 2: Tuân thủ như thế nào?

Các quy định của EU với dệt may không còn là một trận 'thiên la địa võng'. Cuộc chơi xanh đã bắt đầu đổi luật chơi và sòng phẳng hơn với doanh nghiệp Việt Nam.

Một xưởng may của tập đoàn may mặc TAL Apparel của Hồng Kông tại Việt Nam. Doanh nghiệp nước ngoài và các doanh nghiệp lớn trong nước đáp ứng tốt hơn các đòi hỏi quy định thiết kế sinh thái bền vững ESPR và hộ chiếu số sản phấm (DPP) của EU. Ảnh: TAL

Một xưởng may của tập đoàn may mặc TAL Apparel của Hồng Kông tại Việt Nam. Doanh nghiệp nước ngoài và các doanh nghiệp lớn trong nước đáp ứng tốt hơn các đòi hỏi quy định thiết kế sinh thái bền vững ESPR và hộ chiếu số sản phấm (DPP) của EU. Ảnh: TAL

Doanh nghiệp Việt sẵn sàng cho luật chơi mới?

Chưa có các nghiên cứu có hệ thống về mức độ hiểu biết và tuân thủ ESPR/DPP của doanh nghiệp dệt may Việt Nam, theo lời bà Phan Quỳnh Chi - cán bộ dự án dệt may tuần hoàn thuộc Tổ chức Hợp tác quốc tế Đức (GIZ) tại Việt Nam. Nhãn hàng - động lực chính chuẩn bị cho chuỗi cung ứng - đáp ứng thế nào. Bà giải thích luật áp lên nhà nhập khẩu và nhãn hàng, và nhãn hàng làm việc với nhà máy trong phạm vi ảnh hưởng. “Tỷ lệ hàng đi EU nằm trong top đầu. Dù Mỹ hay Nhật Bản chưa luật hóa, nhưng các nhãn vào các thị trường này có thể tuân thủ tự nguyện. Một số nhà máy lớn có thể chủ động đầu tư vào dệt may tuần hoàn như một thế mạnh cạnh tranh”, bà Chi trả lời Kinh tế Sài Gòn từ Hà Nội.

Trước đó, tại một sự kiện năm 2023, Phó chủ tịch VITAS Nguyễn Thị Tuyết Mai nói rằng có sự phân hóa rõ rệt trong ngành trong nhận thức về các tiêu chuẩn xanh. Doanh nghiệp nước ngoài và các công ty lớn trong nước có mức am hiểu cao do chịu áp lực trực tiếp từ nhãn hàng quốc tế.

Và nhóm này đã sớm tự động hóa và quản trị số, sẵn sàng cho DPP. Trong khi đó, hơn 80% số doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) trong nước thiếu thông tin, nhưng lại chần chừ. Nhóm này gặp khó khăn trong việc nắm bắt các yêu cầu kỹ thuật phức tạp của thiết kế sinh thái và các quy định truy xuất nguồn gốc. Tình hình đã có cải thiện “tương đối” trong ba năm qua, bà Mai nhắc lại trong cuộc trao đổi gần đây với Kinh tế Sài Gòn.

Một trong những lý do lớn nhất khiến các doanh nghiệp “chần chừ” và “cải thiện tương đối” là do sự lệ thuộc quá lớn vào nguyên vật liệu nước ngoài.

Ngành dệt may chỉ có thể tự cung cấp khoảng 30-40% nguyên liệu. Mỗi năm, ngành phải “móc hầu bao” hơn 20 tỉ đô la để nhập các loại vật liệu còn thiếu. Đó là chưa kể đến thị trường máy móc, thiết bị dệt may gần như “bỏ trống 100%” cho các công ty nước ngoài. Trung Quốc chiếm vị trí thống lĩnh với hơn 51% thị phần nguyên vật liệu, từ xơ, sợi, vải đến từng nút áo, khóa kéo… Hàn Quốc và Đài Loan cạnh tranh mạnh mẽ để chia phần sợi polyester cao cấp, vải kỹ thuật… Trong khi nguồn bông tự nhiên do các nước như Mỹ, Brazil và Ấn Độ cung cấp.

Chuyển động nhanh

EU đang dẫn dắt thị trường thời trang bền vững toàn cầu, và ngày càng siết chặt các tiêu chuẩn xanh để giảm lượng rác thải dệt may. EU nhắm đến mục tiêu tái chế từ “sợi sang sợi” (fiber-to-fiber) hoặc “dệt may sang dệt may” (textile to textile), nên ưu tiên các vật liệu đơn, hoặc 100% cotton hữu cơ hoặc 100% polyester để thuận lợi rã sợi và tái sử dụng. Các quy định cũng yêu cầu các hãng tự thu gom quần áo cũ để tái chế, cấm ngành dệt may “đi giật” chai nhựa rỗng của ngành F&B để làm sợi tái chế (rPET).

Đáp ứng các yêu cầu thiết kế sinh thái, doanh nghiệp Việt Nam đang nhanh chóng thay đổi. Ở lĩnh vực nhà cung ứng cấp 1, Tổng công ty May 10 sẵn các chứng chỉ GOTS (Dệt may hữu cơ toàn cầu) hay GRS (Tiêu chuẩn tái chế toàn cầu) để bảo vệ các đơn hàng veston và sơ mi ở thị trường EU.

Với 60-70% nguồn nguyên vật liệu nhập khẩu, việc kiểm soát và truy xuất nguồn gốc trên toàn bộ chuỗi cung ứng từ cấp 1 đi ngược về cấp 4 hoàn toàn không hề đơn giản. Bởi đó là sự hỗ trợ mạnh mẽ của các thương hiệu thời trang quốc tế và nỗ lực của doanh nghiệp nhiều nước thuộc chuỗi cung ứng, như trang trại trồng bông ở Trung Quốc hay Ấn Độ, hoặc một quốc gia nuôi cừu như Mỹ hoặc Brazil… Tuy vậy, nhiều doanh nghiệp Việt đã nhanh chóng số hóa để minh bạch dữ liệu và chuẩn bị cho hộ chiếu số DPP.

Công ty cổ phần Task Apparel Việt Nam đã phải kết nối thẳng vào nền tảng lưu trữ TextileGenesis. Về mặt xác thực vật lý, Đồng Phú Cường hay Cotco đã hợp tác với tổ chức Oritain để dùng công nghệ xét nghiệm “pháp y” đồng vị bông - quá trình kiểm tra “dấu vân tay hóa học” - nhằm chứng minh nguồn gốc nguyên liệu là sạch.

Các doanh nghiệp lớn như TCM hay May 10 đều phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt về nhà cung ứng, số hóa quy trình truy xuất và kiểm soát phát thải trên toàn hệ thống từ các thương hiệu lớn như Calvin Klein hoặc Zara…

Dù nghiêm ngặt và trải rộng, các quy định của EU với dệt may không còn là một trận “thiên la địa võng”. Cuộc chơi xanh đã bắt đầu đổi luật chơi và sòng phẳng hơn với doanh nghiệp Việt Nam. Hoặc là chuyển động nhanh để làm chủ thị trường hoặc chần chừ để rồi nằm tầng đáy của chuỗi giá trị.

Ba nền tảng truy xuất nguồn gốc chính

Tùy theo quy mô, doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần đầu tư khoảng 10.000-15.000 đô la đến 100.000 đô la hoặc hơn để số hóa truy xuất nguồn nguyên vật liệu dệt may. Các nhãn hàng và các tổ chức quốc tế đều có hỗ trợ tài chính và kỹ thuật cho quá trình này.

Tại Saigontex 2026, các chuyên gia GIZ và tfl - tổ chức phi lợi nhuận hướng đến phát triển bền vững trong ngành dệt may, da giày Việt Nam - đề cập đến ba nền tảng chính. (i). TextileGenesis thích hợp để chứng minh nguồn gốc nguyên liệu. (ii). Retraced cho quá trình quản lý hồ sơ tuân thủ và chứng chỉ của các xưởng vệ tinh. (iii). Nếu doanh nghiệp lớn cần số hóa toàn diện và tích hợp vào hệ thống quản trị có sẵn thì TrusTrace là lựa chọn thích hợp.

Ricky Hồ

Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/det-may-vuot-ai-espr-cua-eu-phan-2-tuan-thu-nhu-the-nao/