Di dời 860.000 dân nội đô, Hà Nội hết ùn tắc, quá tải?

Kế hoạch di dời 860.000 người dân của Hà Nội chỉ bền vững khi gắn với sinh kế. Nếu người dân ra ngoài nhưng vẫn phải quay vào trung tâm làm việc, áp lực giao thông không những không giảm mà còn gia tăng, kéo theo chi phí xã hội lớn hơn.

Trao đổi với VietNamNet, PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế (ĐH Kinh tế Quốc dân), cho rằng Hà Nội đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải tái cấu trúc không gian phát triển, khi áp lực dân số, hạ tầng và môi trường tại khu vực lõi ngày càng vượt ngưỡng chịu tải.

Đô thị mới phải “đi trước một bước”

Theo định hướng quy hoạch Thủ đô, việc tái cấu trúc đô thị tập trung trong khu vực từ Vành đai 3 trở vào, trong đó Vành đai 1 và Vành đai 2 chịu sức ép lớn nhất về dân số, giao thông và hạ tầng xã hội. Vì vậy, giãn dân nội đô được xem là giải pháp không thể trì hoãn.

Một bộ phận người dân sẽ được tái định cư tại chỗ, số còn lại chuyển đến các đô thị mới, các cực tăng trưởng như Đông Anh, Gia Lâm, Hòa Lạc. Tuy nhiên, theo PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, để di dời dân cư hiệu quả, các đô thị vệ tinh phải được chuẩn bị đầy đủ, thậm chí cần “đi trước một bước”.

“Khu đô thị mới không chỉ là nơi ở thay thế mà phải bảo đảm điều kiện sống tốt hơn nơi cũ, từ trường học, bệnh viện, không gian xanh đến các dịch vụ công cộng thiết yếu”, ông nhấn mạnh.

Khu đô thị mới đón người dân di chuyển từ nội thành không chỉ là nơi ở thay thế mà cần bảo đảm điều kiện sống tốt hơn nơi cũ. Ảnh: Thế Bằng

Khu đô thị mới đón người dân di chuyển từ nội thành không chỉ là nơi ở thay thế mà cần bảo đảm điều kiện sống tốt hơn nơi cũ. Ảnh: Thế Bằng

Theo chuyên gia, di dời dân chỉ bền vững khi gắn với sinh kế. Nếu người dân chuyển ra ngoài nhưng vẫn phải quay vào trung tâm làm việc, áp lực giao thông không những không giảm mà còn gia tăng, kéo theo chi phí xã hội lớn hơn.

Vì vậy, các khu đô thị mới không thể trở thành những “đô thị ngủ”, mà cần được đặt trong chiến lược phát triển kinh tế địa phương bài bản, đủ sức thu hút doanh nghiệp, hình thành các trung tâm dịch vụ, công nghiệp công nghệ cao, thương mại và sáng tạo.

Dẫn ví dụ Khu công nghệ cao Hòa Lạc, ông cho biết dù đã được đầu tư tương đối đồng bộ về hạ tầng giao thông, giáo dục, y tế và có khả năng tạo việc làm, song thực tế vẫn chưa thu hút đông đảo người dân nội đô chuyển về sinh sống. Nguyên nhân không chỉ do khoảng cách hay thói quen sinh hoạt, mà còn bởi hệ sinh thái đô thị và cơ hội việc làm chất lượng cao chưa đủ mạnh.

“Khi nơi ở mới đồng thời là nơi tạo ra sinh kế, người dân sẽ chủ động dịch chuyển thay vì bị động thích nghi”, ông Lạng nhấn mạnh.

Đường sắt đô thị phải là “xương sống”

Gắn với việc di dời dân cư là yêu cầu phát triển mạnh hạ tầng giao thông, trong đó đường sắt đô thị phải giữ vai trò “xương sống”. Theo PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, chỉ khi metro trở thành phương tiện chủ đạo, việc giãn dân ra các đô thị vệ tinh mới thực sự khả thi.

Các tuyến đường sắt đô thị cần kết nối hiệu quả khu vực trung tâm với Hòa Lạc, Đông Anh, Thanh Oai và khu vực phía Nam thành phố, nhằm rút ngắn thời gian di chuyển, hướng tới khoảng 30 phút cho quãng đường 30–40km, đủ sức cạnh tranh với phương tiện cá nhân.

Di dời dân cư đòi hỏi phát triển mạnh hạ tầng giao thông, trong đó đường sắt đô thị giữ vai trò “xương sống”. Ảnh: Thế Bằng

Di dời dân cư đòi hỏi phát triển mạnh hạ tầng giao thông, trong đó đường sắt đô thị giữ vai trò “xương sống”. Ảnh: Thế Bằng

Hiện nay, các tuyến Cát Linh – Hà Đông và Nhổn – ga Hà Nội đã đi vào khai thác, bước đầu tạo thuận lợi cho người dân khu vực ngoài Vành đai 3 tiếp cận trung tâm. Một số tuyến khác cũng đang được triển khai hoặc tái khởi động, như tuyến số 2 Nam Thăng Long – Trần Hưng Đạo, tuyến số 5 Văn Cao – Hòa Lạc và tuyến Yên Viên – Ngọc Hồi.

Tuy nhiên, theo ông Lạng, tiến độ phát triển metro tại Hà Nội vẫn chậm, thời gian thi công kéo dài, ảnh hưởng đến niềm tin của người dân. Thành phố cần cơ chế đặc thù, đồng thời ứng dụng công nghệ mới nhằm rút ngắn thời gian xây dựng, kiểm soát chi phí và nâng cao hiệu quả đầu tư.

Dẫn kinh nghiệm từ Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan, ông cho biết các đô thị vệ tinh có thể cách trung tâm 50–60km, thậm chí xa hơn, miễn là được kết nối bằng hệ thống đường sắt nhanh, thuận tiện và chi phí hợp lý.

“Khoảng cách không phải vấn đề lớn nhất. Điều người dân quan tâm là việc đi lại có nhanh, an toàn và thuận tiện hay không”, ông phân tích.

Mở đường cho cấu trúc đô thị bền vững

Không chỉ là câu chuyện di dân hay metro, theo PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, tái cấu trúc đô thị Hà Nội còn mở ra cơ hội tổ chức lại mạng lưới giao thông nội đô theo hướng khoa học, bền vững hơn.

Một hạn chế lớn hiện nay là thiếu các tuyến kết nối ngang, khiến lưu lượng phương tiện dồn vào một số trục chính, gây ùn tắc cục bộ. Khi dân cư khu vực lõi được giãn bớt, thành phố sẽ có thêm dư địa mở rộng mặt cắt đường, hình thành các tuyến “chân rết”, kết nối linh hoạt với các trục chính và hệ thống vành đai 2, vành đai 2,5.

Đặc biệt, tại khu phố cổ và nội đô lịch sử, việc hình thành thêm các tuyến giao thông dạng “bàn cờ” không chỉ giúp phân tán lưu lượng mà còn tạo điều kiện chỉnh trang đô thị, bổ sung không gian công cộng và cải thiện chất lượng sống.

“Nếu làm tốt, di dời dân cư không chỉ là giảm số người trong nội đô, mà còn tạo nền tảng cho một cấu trúc giao thông bền vững, hiện đại, phục vụ phát triển dài hạn của Thủ đô”, ông Lạng nhận định.

Theo chuyên gia, đây là “cơ hội vàng” nhưng cũng là thách thức lớn, đòi hỏi tầm nhìn dài hạn, quyết tâm chính trị và cách làm đồng bộ. Nếu bỏ lỡ, Hà Nội có nguy cơ tiếp tục đối mặt với tình trạng quá tải và phát triển chắp vá trong nhiều thập kỷ tới.

Vũ Điệp

Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/di-doi-860-000-dan-noi-do-cu-hich-cho-tai-cau-truc-giao-thong-ha-noi-2487013.html