Di dời làng phong gần 100 năm để xây đô thị du lịch: Có xóa sổ dấu tích Hàn Mặc Tử?

Ngôi làng ven biển với kiến trúc Pháp gần 100 năm, ẩn mình trong thung lũng yên bình cưu mang những mảnh đời bất hạnh nay phơi lộ nỗi lo thương hải tang điền.

UBND tỉnh Gia Lai ngày 6.5.2026 đã có quyết định phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch phân khu tỷ lệ 1/2.000 Khu đô thị du lịch nghỉ dưỡng quốc tế biển, gồm hai tiểu khu chính tại núi Vũng Chua và núi Xuân Vân - Quy Hòa, quy mô dự kiến khoảng 2.878 ha thuộc các phường Quy Nhơn Nam, Quy Nhơn Tây, Quy Nhơn Bắc.

Để triển khai dự án này, một phần việc quan trọng là di dời bệnh viện Phong - Da liễu trung ương Quy Hòa cùng các bệnh nhân đang điều trị, sinh sống tại làng phong Quy Hòa, rộng khoảng 60 ha. Hiện làng phong này có 225 căn nhà với 238 bệnh nhân đang sinh sống, 35 người là con em bệnh nhân cùng 16 người là con em và nhân viên bệnh viện.

“Trời hỡi! nhờ ai cho khỏi đói…”

Chúng tôi tìm về làng phong Quy Hòa ngay khi nghe tin chính quyền địa phương chỉ đạo tổ chức rà soát hiện trạng sử dụng đất, dân cư, hạ tầng kỹ thuật, công trình công cộng, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng và các công trình có liên quan trong phạm vi dự án.

Trên lối đi từ bệnh viện Phong - Da liễu Trung ương Quy Hòa ra phòng lưu niệm nhà thơ Hàn Mặc Tử, vị bác sĩ dẫn đường cho biết tiền thân bệnh viện tên là trại phong Quy Hòa (La Léproserie de Qui Hoa) thành lập năm 1929 bởi linh mục người Pháp Paul Maheu và bác sĩ Lemoine. Năm 1932, trại phong xây dựng lại, có cả khu nhà để người bệnh điều trị lâu dài. Trong khuôn viên có nhà thờ, nơi ở của các nữ tu, các ngôi nhà dành cho bệnh nhân phong định cư... Trải qua nhiều biến động, năm 1999 nơi này trở thành bệnh viện Phong - Da liễu Quy Hòa. Từ năm 2005 trong tên gọi có thêm chữ “trung ương”.

Theo tài liệu ở phòng lưu niệm nhà thơ Hàn Mặc Tử, năm 1935 Nguyễn Trọng Trí (tên thật của nhà thơ) có dấu hiệu bệnh phong trên cơ thể, nhưng ông chỉ nghĩ là một chứng phong ngứa không đáng kể. Mãi đến năm 1940 khi bệnh đã chuyển biến nặng, ông mới được người nhà đưa đến trại phong Quy Hòa. Lúc nhập trại, ông mang số bệnh nhân 1134 và nằm giường bệnh số 3 trong khu nhà thương nam từ sáng ngày 20.9.1940. Vì bệnh lỵ nặng nên ông được chuyển vào phòng liệt từ ngày 30.10.1940, đến 11.11.1940 thì qua đời khi mới 28 tuổi.

Mộ phần ban đầu của Hàn Mặc Tử nằm dưới chân núi Xuân Vân. Ngày 13.2.1959, người thân và bạn tri kỷ - nhà thơ Quách Tấn cải táng, lập mộ mới ở khu Ghềnh Ráng trên núi Xuân Vân, gọi tên đồi Thi Nhân. Trên nền mộ cũ năm 1991, vợ chồng nhạc sĩ Trần Thiện Thanh và một số người yêu thơ Hàn Mặc Tử ở TP.HCM đã tài trợ xây đài tưởng niệm.

Sau khi hài cốt Hàn Mặc Tử được cải táng lên đồi Ghềnh Ráng, nơi lập mộ đầu tiên được vợ chồng nhạc sĩ Trần Thiện Thanh và một số người yêu thơ Hàn Mặc Tử ở TP.HCM tài trợ xây đài tưởng niệm. Ảnh: Phạm Anh

Phòng lưu niệm nhà thơ lập tại phòng liệt rộng khoảng 25m2, chia làm hai gian. Gian ngoài đặt tủ kính trưng bày các tập thơ Hàn Mặc Tử; tượng, sách, tranh, ảnh… của các tác giả khác viết, vẽ về ông. Gian trong đặt bàn thờ nhà thơ.

Cạnh đó là chiếc giường bệnh với manh chiếu cói sờn cũ ông từng nằm trong gần hai tháng chống chọi các cơn đau, sát cửa sổ nhìn ra biển Quy Hòa. Trên tường treo nhiều hình ảnh tư liệu cha mẹ, anh chị em của nhà thơ, hình ảnh những nàng thơ trong đời Hàn Mạc Tử (Hoàng Thị Kim Cúc, Mộng Cầm, Mai Đình, Ngọc Sương, Thương Thương).

Một số bút tích của nhà thơ được lồng kính treo trên tường, trong đó có bút tích Hàn Mặc Tử viết gửi Nguyễn Văn Xê - người đồng bệnh đã săn sóc ông những ngày điều trị ở trại phong: “Thơ cầu nguyện đề tặng anh Xê. Francois Trí”; bút tích Hàn Mặc Tử gửi từ Quy Hòa về cho mẹ ở Quy Nhơn: “A maman de Quy Nhon. Viết mấy hàng chữ nầy để lạy từ tạ mẹ. Con bất hiếu. Trí”, và bút tích bốn câu thơ lừng danh của ông trong bài Lang thang: Trời hỡi! nhờ ai cho khỏi đói/ Gió trăng có sẵn làm sao ăn?/ Làm sao giết được người trong mộng/ Để trả thù duyên kiếp phũ phàng.

"Sự trong sạch tâm hồn”

Hồi ký Nguyễn Văn Xê trích đăng trong bộ sách Có một vườn thơ đạo (linh mục Trăng Thập Tự chủ biên) cho biết, khi ôtô đưa Nguyễn Trọng Trí vào nhà thương nam của trại phong Quy Hòa sáng 20.9.1940, Trí gắng gượng lắm mới đứng lên được, đầu gối run run bước từng bước, tay bám vào xe cho khỏi ngã. Nương theo bàn tay dìu đỡ của mẹ Juetta - người phụ trách nhà thương nam, Trí cố đi như lết, đầu cúi xuống trước bao cặp mắt nhìn theo hình hài gầy gò, nhỏ thó của anh.

Đến giường số 3, mẹ Juetta nói: “Trí, đây là chỗ của con”. Ông Xê lúc đó theo giúp việc cho các mẹ nên đã ôm mớ hành lý gói bằng giấy báo cũ của Trí để lên chiếc tủ con rồi cùng với anh lao công trải chiếu chăn cho Trí. Làm xong ông nói Trí lên giường nằm. Trí gật đầu rồi rút đôi chân sưng đen ra khỏi đôi ba ta trắng cũ rích đã ngả sang màu vàng xám, đã bị đạp nhẹ ở cuối gót để thành dép lê dễ xỏ chân.

Khi mẹ Juetta quay về phòng thuốc, mọi người quan sát thấy Trí mặc đồ bà ba trắng, khoác chiếc veston màu trắng bám đầy bụi đường, cổ choàng chiếc khăn lông trắng. Trí trang phục thế nhưng vẫn không sao che nổi tấm thân gầy còm, ốm yếu. Trí để nguyên quần áo nằm lên giường lim dim mắt.

Chiếc giường bệnh của Nguyễn Trọng Trí nằm những ngày cuối đời hiện còn lưu giữ trong phòng lưu niệm nhà thơ Hàn Mặc Tử. Ảnh: Phạm Anh

15 giờ hôm ấy, ông Xê trở lại trò chuyện với Trí. “Trí có vẻ hơi xúc động trong giọng nói: “Nhà tôi ở ngay Quy Nhơn”. Nghe vậy tôi không giấu được sự ngạc nhiên, liền hỏi: “Ở ngay Quy Nhơn mà anh không vào đây ngay chữa trị?”. Sau câu hỏi này của tôi, thì Trí lộ vẻ xúc động với đôi mắt long lanh buồn thảm: “Tôi nghĩ không bao giờ mình bị bệnh này anh Xê à”.

Tôi buột miệng nói: “Uổng quá”. Thấy mình lỡ lời nên tôi vội vàng nói thêm: “Nhưng cũng không muộn màng gì đâu anh Trí, anh yên tâm chữa trị vài tuần thì sẽ thấy khỏi ngay”.

Trí lúc này thật buồn, nói như bị nấc cụt: “Tôi tuyệt vọng rồi hy vọng, hy vọng rồi tuyệt vọng đã mấy năm nay rồi”.

Thấy thế tôi vội an ủi: “Bây giờ anh phải hy vọng vì chữa thầy đã đúng chỗ rồi”.

Trí cũng rầu rầu nói với vẻ mặt không tin tưởng: “Khắp các tiệm thuốc Bắc và các ông bà thầy thuốc Nam ở Bình Định tôi đến chữa không sót một người, mà càng ngày thân thể ra thế này…” - ông Xê viết trong hồi ký.

Sau khi Trí vào Quy Hòa được ba tuần lễ, nhờ sự chăm sóc chu đáo, tận tụy của các nữ tu dòng thánh Francois d’Assise, đặc biệt là mẹ Juetta, nên bệnh Trí thuyên giảm rõ rệt.

Ngày 30.10.1940, cả buổi trưa cho đến tối ông Xê bận việc nên sáng hôm sau ông mới biết Trí đi kiết đến kiệt sức nên không thể đi nhà thờ. Khi ông đến thăm Trí thì thấy Trí phờ phạc, xanh xao, đề nghị xin mẹ Juetta cho Trí vào trong phòng liệt cho tiện. Rồi suốt hơn một tuần lễ từ 30.10 - 7.11.1940 bệnh kiết lị của Trí vẫn không giảm mà có phần tăng thêm nên trông Trí người khô đét, gầy guộc xanh xao đến thảm não. Đêm 8.11.1940 là phiên trực của ông Xê, Trí đi tiêu rất nhiều lần, mỗi lần đi có một chút đờm và vài giọt máu. Trí mệt lả bước không nổi, ông Xê phải dìu đi rồi dìu về giường nằm.

Sáng 9.11.1940, sau khi khám bệnh, mẹ Juetta bưng chén thuốc cho Trí uống xong nói: “Chiều nay có xe đi mời cha tuyên úy vào xức dầu cho con”. Trí gật đầu và dạ rất nhỏ. Sáng 10.11.1940, lúc 6 giờ 45 phút, cha cho Trí chịu phép xức dầu và rước lễ. Nguyên ngày hôm ấy Trí vẫn đi tiêu nhưng ông Xê thấy tinh thần Trí tươi tỉnh khi nói chuyện với ông. Ông Xê hỏi Trí có cần gì thì nói, Trí đọc cho ông hai địa chỉ cần báo tin khi Trí chết: Trần Thanh Mại - Trésor - Huế, Quách Tấn - Résident - Nha Trang…

“Đêm ấy tôi trực với mẹ Juetta và xơ Julienne. Chúng tôi có đến thăm Trí ba lần, và lần thứ ba lúc khoảng 3 giờ thì xơ Julienne cho biết từ giờ đến sáng Trí sẽ chết. Ngày 11.11.1940 thì Trí đã tắt thở. Sau khi báo tin cho các mẹ, tôi và anh em cùng giúp thay áo quần cho Trí và khâm liệm. Xong xuôi đâu vào đó thì anh em bệnh nhân đến đọc kinh cầu nguyện.

Khi ấy tôi thu gọn “tài sản” của Trí gồm một bộ bà ba trắng cũ, một veston cũ, một đôi ba ta sắp hư, một gối con con, một cuốn sách dày 200 trang của Rousseau và một bài văn tiếng Pháp viết bằng bút chì, mà lúc thay đồ cho Trí tôi lấy ở trong túi ra xem qua, đó là bài văn La Pureté de J’âme (Sự trong sạch tâm hồn). Và tuyệt nhiên không có một xu hào nào trong túi Trí từ khi vào cho đến chết...”, ông Xê kể lại trong hồi ký.

Nơi lưu giữ ký ức đau thương thành điểm đến văn hóa

Hàn Mặc Tử sinh ra ở Quảng Bình, sự nghiệp văn chương, báo chí và những giai thoại tình yêu của ông trải qua nhiều vùng đất: Sài Gòn, Huế, Phan Thiết… Thế nhưng, Quy Nhơn mới đích thực là nơi ông thuộc về. Không chỉ vì ông đã sống ở đây và nắm xương gửi lại chốn này, mà còn bởi sự song hành của tài hoa và bạc mệnh chỉ có thể tìm thấy tại đây. Quy Nhơn cũng là nơi lưu giữ nhiều dấu tích vật chất và ký ức về Hàn Mặc Tử hơn bất kỳ địa phương nào khác.

Vậy nên khi nghe tin làng phong Quy Hòa sắp phải di dời để nhường đất cho Khu đô thị du lịch nghỉ dưỡng quốc tế biển, nhiều người không khỏi lo lắng cho số phận căn phòng lưu niệm và khu vực đài tưởng niệm nhà thơ Hàn Mặc Tử, vốn đã hằn sâu trong ký ức văn hóa và tâm thức cộng đồng.

Làng phong Quy Hòa tạo lập từ năm 1929, rộng khoảng 60 ha, hiện có 225 căn nhà. Ảnh: Nguyễn Hoàng

Trên thế giới có nhiều nơi từng là bệnh viện, khu cách ly bệnh phong khi không còn phù hợp với chức năng ban đầu nữa, người ta cũng quy hoạch lại như những gì sắp diễn ra với làng phong Quy Hòa. Tuy nhiên, cách ứng xử của các nước đa phần không chọn xóa trắng mà cải hóa thành những điểm đến văn hóa, di sản thu hút du khách.

Đơn cử như công viên lịch sử quốc gia Kalaupapa của Mỹ từng là khu cách ly bệnh phong nổi tiếng Hawaii, hiện được bảo tồn như một di tích lịch sử quốc gia, kể lại câu chuyện của hàng ngàn bệnh nhân phong và hoạt động của cha Damien de Veuster - người sau này được phong thánh vì việc làm vĩ đại của mình.

Tương tự, Nagashima Aiseien từng là trại phong quốc gia đầu tiên của Nhật Bản thành lập năm 1930. Nơi đây hiện vẫn còn những cựu bệnh nhân phong lớn tuổi sinh sống và có bảo tàng lưu giữ ký ức bệnh phong, hầu hết các công trình lịch sử được bảo tồn để giáo dục công chúng về lịch sử bệnh phong và quyền con người…

Đảo Robben (Nam Phi) nổi tiếng là nơi giam giữ lãnh tụ Nelson Mandela cũng từng được chính quyền thuộc địa sử dụng làm khu cách ly bệnh phong từ năm 1845. Năm 1999 đảo này được UNESCO công nhận di sản thế giới và trong số các di tích du khách thường đến tham quan có nhà thờ và nghĩa trang người bệnh phong… Tương tự, đảo Sorokdo cũng từng là nơi cách ly người bệnh phong lớn nhất Hàn Quốc từ năm 1916. Hiện nay nhiều công trình thời thuộc địa Nhật, khu nhà ở bệnh nhân, nghĩa trang và các di tích liên quan vẫn được bảo tồn như chứng tích lịch sử...

Làng phong Quy Hòa hoàn toàn có thể quy hoạch lại theo kinh nghiệm của các nước. Trong bối cảnh nhiều địa phương đang nỗ lực tìm kiếm bản sắc riêng để phát triển, Quy Hòa đã sở hữu sẵn một nguồn tài nguyên văn hóa bản địa độc đáo. Điều cần làm là nhận diện đúng giá trị có một không hai của nơi này để làm tâm điểm quy hoạch. Giá trị của di tích không nằm ở quy mô kiến trúc hay sự đồ sộ của công trình, mà ở những câu chuyện lịch sử, những ký ức và cảm xúc mà nó lưu giữ. Giữ lại nơi Hàn Mặc Tử từng chữa bệnh, nơi chôn cất đầu tiên và bảo tồn những công trình kiến trúc có giá trị di sản, lịch sử trong làng phong Quy Hòa, tích hợp vào quy hoạch mới của Khu đô thị du lịch nghỉ dưỡng quốc tế biển, không những tạo nên một bản sắc du lịch độc đáo, mà còn là cách để gìn giữ ký ức văn hóa của vùng đất, tôn trọng những lớp trầm tích lịch sử của dân tộc và biến di sản thành nguồn lực phát triển bền vững cho tương lai.

Diện mạo Khu đô thị du lịch nghỉ dưỡng quốc tế biển

Quyết định phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch phân khu tỷ lệ 1/2.000 Khu đô thị du lịch nghỉ dưỡng quốc tế biển của UBND tỉnh Gia Lai xác định đây là khu đô thị, văn hóa, du lịch, nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, chăm sóc sức khỏe mang tầm quốc tế. Cơ cấu sử dụng đất bao gồm 2 tiểu khu chính:

Tiểu khu núi Vũng Chua: Quy hoạch xây dựng các hạng mục chính như nhóm nhà ở ven sườn Đông núi Vũng Chua dọc Quốc lộ 1D hướng về thung lũng Quy Hòa và nhóm nhà ở ven sườn Đông núi Vũng Chua hướng về nội thị Quy Nhơn; công trình dịch vụ công cộng; công trình dành cho hoạt động lưu trú du lịch, nghỉ dưỡng, dịch vụ vui chơi giải trí, dịch vụ ăn uống, mua sắm, các dịch vụ liên quan khác phục vụ khách du lịch dọc theo đỉnh núi Vũng Chua; Trung tâm thể dục thể thao - sân gôn dọc đỉnh núi Vũng Chua; khu vực cây xanh cảnh quan kết hợp mặt nước...

Tiểu khu núi Xuân Vân - Quy Hòa: Quy hoạch xây dựng các hạng mục chính như nhóm nhà ở (chủ yếu tập trung sườn phía Tây núi Xuân Vân và thung lũng Quy Hòa); công trình hạ tầng xã hội; công trình dành cho hoạt động lưu trú du lịch, dịch vụ vui chơi giải trí, các dịch vụ khác phục vụ phát triển du lịch (bố trí dọc theo không gian biển từ khu vực Quy Hòa đến sườn Đông núi Xuân Vân); các công trình di tích, tôn giáo khu vực Quy Hòa và đỉnh núi Xuân Vân được giữ lại, tôn tạo, chỉnh trang; bãi xe phục vụ khách du lịch...

Nguyễn Hoàng - Phạm Anh

Nguồn Người Đô Thị: https://nguoidothi.net.vn/di-doi-lang-phong-gan-100-nam-de-xay-do-thi-du-lich-co-xoa-so-dau-tich-han-mac-tu-53211.html