Di duệ người Kinh cựu ở Hà Lam - Thăng Bình

Trong tiến trình Nam tiến, sự gặp gỡ và hòa trộn giữa cư dân Việt với người Chàm bản địa đã để lại nhiều dấu vết trong cấu trúc dân cư và văn hóa miền Trung. Tuy nhiên, những tư liệu ghi chép rõ ràng về các gia đình mang hai dòng máu Chàm - Kinh còn lại đến nay không nhiều.

Bài vị vợ chồng ngài thủy tổ tại nhà thờ tộc Võ Văn. Ảnh: Vũ Hùng

Bài vị vợ chồng ngài thủy tổ tại nhà thờ tộc Võ Văn. Ảnh: Vũ Hùng

Từ một bản phổ chí cổ của tộc Võ Văn ở Hà Lam, bài viết này nhằm cung cấp thêm một cứ liệu đáng chú ý về sự hiện diện của lớp cư dân Kinh cựu trên đất Quảng xưa, qua đó góp phần soi sáng một lát cắt lịch sử ít được biết đến trong quá trình hình thành cộng đồng cư dân ở vùng đất này.

Hành trình hòa trộn văn hóa

Kinh cựu là danh xưng để chỉ cư dân mang hai dòng máu Chàm - Kinh tại các làng Xuân Hội, Xuân Quang, Tuân Giáo và Tân Mục, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận trước đây, nay là xã Bắc Bình và xã Hồng Thái, tỉnh Lâm Đồng.

Năm 1693, chúa Nguyễn lập trấn Thuận Thành bao gồm vùng đất hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận cũ, người đứng đầu là Thuận Thành vương. Theo các bộ địa chí của nhà Nguyễn (Đại Nam nhất thống chí, đời vua Tự Đức: 1847-1883; Đồng Khánh địa dư chí, Đồng Khánh: 1885-1889; Đại Nam nhất thống chí, Duy Tân: 1907-1916), người Kinh ở Thuận Hóa đến đây lấy vợ người Chàm, dần dà thành người bản thổ, đàn bà mặc quần áo người Chàm, đàn ông mặc quần áo người Kinh, tang hôn tế tự đại khái đều giống tục người Kinh. Thuận Hóa là hai châu Thuận và châu Hóa, châu Thuận tương đương tỉnh Quảng Trị, châu Hóa tương đương tỉnh Thừa Thiên Huế và huyện Điện Bàn cũ.

Những người Kinh này là binh lính chúa Nguyễn cử “bảo hộ” Phiên vương Thuận Thành, dân phiêu tán, các lớp người di dân đến vùng đất mới biên viễn, những trai tráng này kết hôn với phụ nữ bản xứ. Ban đầu, sinh sống trong làng người Chàm, sau đó họ dần dần tách ra lập làng riêng, phong tục tập quán, tiếng nói đan xen Chàm và Kinh, dần dần văn hóa Kinh chiếm ưu thế.

Những cư dân mang hai dòng máu Chàm - Kinh này cũng đã từng diễn ra tại miền Trung sau sự kiện nhà Lê chiếm kinh đô Đồ Bàn và lập thừa tuyên Quảng Nam, dải đất từ nam sông Thu Bồn đến đèo Cù Mông, vào năm 1471. Những phạm nhân xung lính được đưa đi trấn giữ vùng đất mới, cùng với quan lại và trai tráng lưu dân đã kết hôn với người phụ nữ Chàm bản xứ, chịu ảnh hưởng phong tục tập quán của người Chàm.

Vì vậy, cuối thế kỷ 15, năm 1492, để bảo vệ phong tục của người Kinh, nhà Lê ra chỉ dụ: “Kể từ nay, trên từ thân vương, dưới đến dân chúng, đều không được lấy đàn bà con gái Chiêm Thành làm vợ, để cho phong tục được thuần hậu” (Đại Việt sử ký toàn thư, 2017, 521). Liệu chỉ dụ có được chấp hành nghiêm ở vùng đất mới biên viễn không?

Phổ chí hiếm ghi vợ thủy tổ là người Chàm

Không ít phổ chí của những dòng tộc lâu đời tại Quảng Nam thường ghi chép thủy tổ “Bắc địa tùng vương”, “theo vua Lê Thánh Tông bình Chiêm”, nhưng chỉ ghi họ tên hoặc tôn xưng “Đại Lang”, “Quý Công”, “Thái Công” của người chồng, không ghi họ tên của người vợ, nhất là vợ người Chàm bản thổ. Vừa qua, khi chúng tôi đến tộc Trà, làng Đồng Dương tìm hiểu, được người tộc Trà cho biết có một phổ chí cổ tại thị trấn Hà Lam, nay là khu phố 5 xã Thăng Bình, Đà Nẵng, có ghi tên vợ ngài thủy tổ là người Chiêm Thành.

Theo bản phổ chí tộc Võ Văn, chữ Nho, soạn năm Quý Mão, trong đó ghi: “Thủy tổ Võ Đại Lang, tự Khâm, thụy Dinh Bửu Hầu, mộ tại Đồng Thái xã, Thị Đàn xứ; tiên tự Hà Tĩnh tỉnh, Diên Lộc huyện, Bình Phú tổng, Nguyên Đăng xã. Trà Mạnh Nương, hiệu Mai Châu phu nhân, mộ tại Đồng Thái xã, Ma Da xứ”. Đây là một phổ chí hiếm hoi có ghi vợ ngài thủy tổ là người Chàm!

Đến nay, dòng tộc được 18 đời, 450 năm (mỗi đời trung bình 25 năm). Như vậy, ngài thủy tổ vào đây từ giữa đến cuối thế kỷ 16. Thời gian này đang có cuộc chiến Nam triều - Bắc triều (Lê - Mạc), quyền lực nhà Lê xứ biên viễn Thuận Quảng suy yếu trước khi trở thành vùng đất của Nguyễn Hoàng, nên chỉ dụ của nhà Lê không còn ý nghĩa, việc kết hôn với phụ nữ Chàm bản thổ vẫn diễn ra. Ngài thủy tổ quê ở Hà Tĩnh, có cả tên tự và thụy hiệu, là một vị quan được phong tước Hầu, một người có vị trí cao trọng. Đặc biệt, vợ ông người Chàm, tộc Trà - 茶, tôn xưng Mạnh Nương - 孟 娘, hiệu Mai Châu phu nhân - 枚 珠 夫 人, càng cho biết đây là một thế gia trong vùng vào thời bấy giờ.

Mộ ngài thủy tổ tại xứ Thị Đàn, cách nhà thờ tộc hiện nay vài trăm mét, mộ của bà tại xứ đất Ma Da, một địa danh có thể nguyên là tiếng Chàm (Trong tiếng Chàm, huma/hamu là đồng ruộng, cánh đồng, người Việt đơn âm hóa huma thành ma; Aia là nước, sông, xứ, ký âm là Da. Hiện nay, xứ Ma Da là một đồng ruộng). Theo mẫu hệ Chàm, khi qua đời được mai táng tại nghĩa địa bên mẹ, nên vợ chồng không mai táng chung một địa điểm. Phải chăng lúc này người Chàm đã địa táng theo phong tục người Việt nhưng văn hóa mẫu hệ vẫn chưa hoàn toàn bị thay thế?

Vào nửa sau thế kỷ 16, gia đình vị thủy tổ mang hai dòng máu Chàm - Kinh này, bên cạnh văn hóa của cha, vẫn còn bảo lưu những nét văn hóa của người mẹ Chàm, tương tự như người Kinh cựu ở Bình Thuận. Gần 5 thế kỷ đã qua, dòng tộc này là di duệ của người “Kinh cựu” thuở thừa tuyên Quảng Nam xưa còn lưu dấu cho đến nay.

VŨ HÙNG

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/di-due-nguoi-kinh-cuu-o-ha-lam-thang-binh-3333179.html