Đi lên từ khói lửa (Bài 2): Anh dũng và kiên cường

Chiến tranh đã lùi xa nhưng trên bản đồ Việt Nam, có những địa danh mãi đi vào lịch sử gắn liền với những chiến công anh dũng của biết bao con người.

Niềm vui của cựu chiến binh Lê Văn Phúc (người thứ 2 từ phải sang) khi gặp lại đồng đội.

Niềm vui của cựu chiến binh Lê Văn Phúc (người thứ 2 từ phải sang) khi gặp lại đồng đội.

"Yết hầu" phà Ghép

Nếu cầu Hàm Rồng là “tọa độ lửa”, biểu tượng của tinh thần thép ở phía Bắc tỉnh Thanh Hóa, thì bến phà Ghép chính là “yết hầu” quan trọng và là nơi chia lửa anh hùng ở phía Nam.

Nằm trên tuyến Quốc lộ 1A, từ năm 1965 đến 1973 phà Ghép là một trọng điểm đánh phá ác liệt của đế quốc Mỹ trong 2 cuộc chiến tranh leo thang phá hoại miền Bắc. Bằng tinh thần anh dũng chiến đấu dưới mưa bom, bão đạn, quân và dân xã Quảng Trung (Quảng Xương), nay thuộc xã Quảng Chính bên phía bờ Bắc và xã Hải Châu, Thanh Thủy (Tĩnh Gia), nay là phường Ngọc Sơn bên phía bờ Nam đã có 3.000 ngày đêm giữ vững mạch máu giao thông từ hậu phương miền Bắc chi viện cho miền Nam.

Nhớ lại những ngày khói lửa ấy, ông Hoàng Văn Trình, nguyên Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh xã Thanh Thủy (nay thuộc phường Ngọc Sơn), khi ấy đang là liên đội trưởng thiếu nhi, cho biết: Khi bến phà Ghép bị đánh phá dữ dội, hai bến phà phụ là Ngọc Trà và Hải Châu đã góp phần giữ vững việc vận chuyển qua sông. Bến Ngọc Trà nằm về phía Tây Bắc, còn bến Hải Châu ở bờ Nam sông Yên, hình thành một hệ thống phà dự phòng hiệu quả.

Ông kể cho chúng tôi về những ngày tháng mà mỗi lần cầu phao bị bom, các bè luồng bị tan tác, bom đạn vừa ngớt, mùi khói nồng nặc nhưng dân quân vẫn kịp thời kéo bè luồng cất giấu để đêm đến lắp ráp cho xe qua. Nhiều lần đoàn thuyền nan vận chuyển lương thực, vũ khí, đạn dược trên đường vào chiến trường bị máy bay địch oanh tạc, thuyền đắm dân quân xã Thanh Thủy đã lo chôn cất thủy thủ, vớt hàng lên bờ phơi và bảo quản.

Qua 8 năm với 2 lần đế quốc Mỹ leo thang tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, chúng đã trút xuống Thanh Thủy 12.507 tấn bom các loại, thực hiện đánh phá 1.164 trận (cả ngày lẫn đêm), gây cho người dân Thanh Thủy bao đau thương, mất mát: 75 người chết, 59 người bị thương, 128 ngôi nhà bị cháy, 1.250 mét đường bị phá hỏng, 2,5km đê ngăn mặn bị phá hủy, 105 con trâu bò chết, hàng trăm ha ruộng không thể canh tác được.

Còn với bà Hoàng Thị Đương dù đã hơn 80 tuổi nhưng bà vẫn nhớ tên từng người trong Tiểu đội nữ dân quân xã Thanh Thủy (huyện Tĩnh Gia cũ) gồm 10 người được thành lập ngày 3/7/1967. Bà Đương là người duy nhất trong số dân quân nữ khi ấy được cử đi học sử dụng súng 12,7 ly. “Lúc đó, tiểu đội được trang bị chỉ với 2 khẩu súng 12,7 ly có nhiệm vụ chiến đấu với không quân Mỹ để bảo vệ phà Ghép. Dù trang thiết bị thô sơ nhưng lần thứ nhất, vào ngày 8/8/1967, tiểu đội đã bắn rơi 1 máy bay F4D. Hơn 2 tháng sau, ngày 22/10/1967, Bác Hồ đã gửi thư khen ngợi và tặng huy hiệu của Người cho chiến công của 10 nữ dân quân xã Thanh Thủy. Lần thứ 2 ngày 29/5/1972 phối hợp các đơn vị bắn rơi 1 chiếc F4C. Chúng tôi là đơn vị nữ dân quân đầu tiên của huyện Tĩnh Gia bắn rơi máy bay địch bằng súng bộ binh”, bà Hoàng Thị Đương kể lại.

Bà Hoàng Thị Đương, một trong 10 thành viên của Tiểu đội gái dân quân xã Thanh Thủy (nay thuộc phường Ngọc Sơn).

Bà Hoàng Thị Đương, một trong 10 thành viên của Tiểu đội gái dân quân xã Thanh Thủy (nay thuộc phường Ngọc Sơn).

10 nữ dân quân gồm: Lường Thị Tính (khẩu đội trưởng), Hoàng Thị Đương (khẩu đội phó), Nguyễn Thị Ly, Tống Thị Hoan, Vũ Thị Tuyết, Đỗ Thị Lãi, Đỗ Thị Tình, Phạm Thị Cưu, Đỗ Thị Sáu, Lê Thị Chuyên. “Ngày ấy nếu không may trận địa bị trúng bom thì 10 cô gái tóc dài Thanh Thủy cũng chẳng khác gì 10 cô gái Ngã Ba Đồng Lộc. Chúng tôi may mắn hơn họ vì được chứng kiến niềm vui của ngày đất nước hòa bình, thống nhất", bà Hoàng Thị Đương bình thản nói. 10 cô gái năm ấy tuổi mới mười tám, đôi mươi ngày đêm ra trận địa chờ giặc, không sợ gian khổ, hy sinh, nay chỉ còn 4 “bà” và tuổi đều đã ngoài tám chục.

Ở phía bên kia sông Yên, tại bến Ngọc Trà, người công nhân giao thông Vũ Hồng Út đã vui vẻ, sẵn sàng có mặt dự lễ truy điệu sống của chính mình trước khi nhận nhiệm vụ. Hình ảnh ông cảm tử lái chiếc ca nô lao vút ngang dọc trên sông nhằm phá hủy những quả bom và thủy lôi từ trường của giặc Mỹ thả xuống để giải phóng lòng sông, bến bãi cho những đoàn quân và hàng hóa qua sông an toàn vẫn được người dân khu vực này ghi nhớ và kể lại. Ghi nhận những chiến công đó, ngay trong thời điểm chiến tranh ác liệt, ông đã được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu AHLLVTND. Cũng trong những ngày ấy, tấm gương người thiếu niên dũng cảm - anh hùng Nguyễn Bá Ngọc đã băng mình dưới làn bom bi sát thương của giặc Mỹ để cứu sống 2 em nhỏ vào sáng ngày 4/4/1965 và đã anh dũng hy sinh khi mới 13 tuổi.

Bên cạnh đó là rất nhiều tấm gương anh hùng khác như đội cầu Bến Phà 3-4; C94 Quảng Xương; các lực lượng thanh niên xung phong, công nhân, bộ đội, dân quân, dân công thuyền nan... Họ đã cống hiến, hy sinh cho cuộc chiến đấu, phục vụ chiến đấu bảo vệ cầu phà, bảo vệ tính mạng của Nhân dân và giữ vững mạch máu giao thông.

Kiên cường làm kinh tế

“Trong chiến trường, chúng tôi là những người dũng cảm chiến đấu, còn khi hòa bình lập lại, sự kiên cường là nền tảng để chúng tôi phát triển kinh tế”, đó là những chia sẻ của cựu chiến binh Lê Văn Phúc (sinh năm 1950), ở thôn 4, xã Sao Vàng.

Vừa ngoài 20 tuổi, ông Lê Văn Phúc lên đường nhập ngũ. Phần lớn thời gian ông thuộc quân số của Trung đoàn 165, Sư đoàn 312, chiến đấu ở Quảng Trị. “Do có thành tích bắn được nhiều máy bay địch, tôi đã được kết nạp Đảng ngay trong những ngày khói lửa Quảng Trị và được báo cáo thành tích toàn quân”, ông Phúc cho biết.

Sau những trận đánh ác liệt, đến năm 1974, ông bị thương nặng và được đưa ra Bắc, về địa phương làm công tác Đoàn. “Những năm tháng chiến tranh không chỉ rèn luyện cho chúng tôi lòng dũng cảm sẵn sàng chiến đấu, mà còn tôi luyện ý chí kiên cường dù bất kỳ hoàn cảnh nào”, ông Phúc khẳng định.

Sống ở xã Xuân Quang cũ, nay thuộc xã Sao Vàng, cựu chiến binh Lê Văn Phúc thấy rằng, nông sản có ngay xung quanh mình, và đây cũng là lĩnh vực ông khá am hiểu, phù hợp để kinh doanh an toàn. Vì thế, ông lựa chọn xây dựng và phát triển mô hình trồng ớt an toàn, từ đó tìm hướng xuất khẩu.

Để cây trồng có chất lượng tốt, ông đã phải đầu tư hệ thống tưới tiêu, chọn thời điểm thích hợp để gieo giống, chăm sóc cây. Do ớt là cây có khả năng chống chịu thời tiết tốt nên ông trồng tập trung, tỉa cành trên từng thửa ruộng, bón phân định kỳ. Sau một thời gian ngắn, mô hình trồng ớt an toàn của ông đã đơm hoa kết trái, thu hoạch được kết quả khả quan.

Tất nhiên làm ăn kinh doanh có thể lỗ, có thể lãi. Giai đoạn những năm 2010-2014, ông Lê Văn Phúc đã tìm được thị trường tiêu thụ ớt từ đó liên kết với các doanh nghiệp để xuất khẩu. Không chỉ có thị trường Trung Quốc, công ty còn mở rộng các đơn hàng xuất khẩu đi Hàn Quốc, Nhật Bản và một số nước Trung Đông, đem lại doanh thu lớn. Đến những năm đại dịch COVID-19, doanh nghiệp của ông cũng “liêu xiêu”, nhiều “mối” làm ăn đành khép lại, công nhân mất việc làm.

Song, nhờ kiên trì chịu khó, ông đã tìm cách trồng ớt trái vụ, hạn chế ảnh hưởng thời tiết mưa bão. Vì thế mô hình sản xuất ớt an toàn xuất khẩu của ông Phúc đã và đang đem lại cho gia đình nguồn thu ổn định, trở thành nền tảng để người con trai là Lê Văn Thôi tự tin tiếp tục phát triển.

Với ông làm gì thì làm cũng phải nghĩ đến người dân, gỡ khó cho người dân, chủ động chia sẻ khó khăn với bà con nông dân bằng các biện pháp hỗ trợ giống, vật tư đầu vào và cả việc tiêu thụ sản phẩm.

"Chặng đường đồng hành cùng bà con nông dân vẫn đang tiếp tục. Từ người lính đến người làm kinh doanh, có thể cách thức khác nhau nhưng mục tiêu vẫn là một: xây dựng cuộc sống của mình và những người xung quanh ngày càng tốt đẹp hơn", ông Lê Văn Phúc tâm sự.

Bài và ảnh: Bảo Anh

Nguồn Thanh Hóa: https://vhds.baothanhhoa.vn/di-len-tu-khoi-lua-bai-2-nbsp-anh-dung-va-kien-cuong-43242.htm