Di sản sống của Trường Sơn - Bài cuối: Tài chính xanh và kinh tế bền vững

Trên hành lang sinh thái Trường Sơn, từ Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng đến Vườn quốc gia Bạch Mã, tài chính xanh đang dần trở thành một hướng tiếp cận mới trong công tác bảo tồn.

Một góc rừng trong vùng lõi Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (tỉnh Quảng Trị). Ảnh: Kha Phạm/TTXVN

Một góc rừng trong vùng lõi Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (tỉnh Quảng Trị). Ảnh: Kha Phạm/TTXVN

Theo đó, những giá trị vô hình của rừng như khả năng hấp thụ carbon, điều tiết khí hậu và duy trì đa dạng sinh học được lượng hóa thành nguồn lực kinh tế để tái đầu tư cho bảo tồn. Đây không phải là sự thương mại hóa thiên nhiên, mà là bước chuyển trong tư duy theo hướng hiện đại, khi khoa học cung cấp dữ liệu, quản trị hoàn thiện khung pháp lý và tài chính xanh tạo ra nguồn lực ổn định. Nhờ vậy, rừng không còn bị xem là "gánh nặng ngân sách", mà trở thành tài sản sinh thái có khả năng tạo ra giá trị bền vững cho cộng đồng và quốc gia.

"Tiền xanh" từ dịch vụ môi trường rừng và cơ chế chi trả giảm phát thải

Theo Ban quản lý Vườn quốc gia Bạch Mã, cơ chế chi trả giảm phát thải không chỉ tạo nguồn tài chính cho bảo tồn mà còn gắn chặt bảo vệ rừng với phát triển sinh kế bền vững cho cộng đồng giáp ranh. Các chương trình hỗ trợ sinh kế, giao khoán bảo vệ rừng và tuần tra cộng đồng đã giảm áp lực khai thác trái phép, đồng thời nâng cao vai trò chủ thể của người dân trong quản lý rừng.

Thực tiễn Bắc Trung Bộ cho thấy cơ chế chi trả giảm phát thải rừng - ERPA đã tạo dòng tài chính cụ thể cho bảo tồn. Tại Quảng Trị, đến giữa năm 2025 nguồn tiếp nhận gần 365 tỷ đồng; trong đó, hơn 326 tỷ đồng đã chi trả cho chủ rừng và cộng đồng, góp phần cải thiện sinh kế và duy trì ổn định tỷ lệ che phủ rừng.

Trong nhiều thập kỷ, công tác bảo vệ rừng ở Việt Nam chủ yếu dựa vào ngân sách và các dự án ngắn hạn, góp phần duy trì diện tích rừng nhưng chưa tạo được động lực lâu dài cho cộng đồng sống cạnh rừng. Thực tế đó buộc các vườn quốc gia phải tìm kiếm những cơ chế mới, hướng tới việc chuyển các giá trị sinh thái của rừng thành dòng tài chính xanh đủ lớn và bền vững, vừa phục vụ bảo tồn, vừa cải thiện sinh kế cho người dân vùng đệm.

Thực tiễn Trung Trung Bộ cho thấy rừng tự nhiên hấp thụ và lưu trữ carbon ổn định hơn nhiều so với rừng trồng ngắn hạn. Giữ cấu trúc rừng nguyên sinh vừa bảo tồn đa dạng sinh học, vừa tạo giá trị khí hậu dài hạn, ngày càng được định giá trong các cơ chế tài chính xanh toàn cầu.

Tại Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, mối quan hệ giữa rừng và hệ sinh thái hang động tạo nên một cấu trúc tài chính xanh đa tầng. Rừng bao quanh khối karst không chỉ lưu giữ carbon, mà còn điều tiết vi khí hậu - nhiệt độ, độ ẩm và dòng nước - những yếu tố sống còn đối với hệ sinh thái hang động đặc hữu.

Thực tế triển khai cho thấy cơ chế tài chính xanh được cụ thể hóa thông qua giao khoán bảo vệ rừng cho cộng đồng, với các đợt tuần tra phối hợp giữa kiểm lâm và người dân. Việc chi trả gắn trực tiếp với kết quả giữ rừng đã tạo động lực kinh tế rõ ràng, giúp cộng đồng chủ động tham gia tuần tra, phòng cháy chữa cháy và giám sát các hành vi xâm hại tài nguyên rừng.

Ông Phạm Hồng Thái, Giám đốc Ban quản lý Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng cho rằng, mất rừng đồng nghĩa với mất cân bằng nước, nhiệt và độ ẩm - những điều kiện quyết định sự sống trong hang. Vì vậy, bảo vệ rừng tại đây không chỉ là nhiệm vụ lâm nghiệp, mà còn là điều kiện tiên quyết để bảo vệ giá trị di sản địa chất - sinh học của toàn khu vực.

Ở Vườn quốc gia Bạch Mã, cách tiếp cận này thể hiện rõ qua việc khoán bảo vệ rừng, chi trả dịch vụ môi trường rừng và từng bước tham gia các cơ chế chi trả dựa trên kết quả bảo vệ rừng. Với trữ lượng sinh khối lớn, hệ rừng mưa nhiệt đới còn tương đối nguyên vẹn và dữ liệu theo dõi diễn biến rừng dài hạn, khu vực này có nhiều lợi thế để tham gia các chương trình "giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng" (REDD+).

Ông Nguyễn Vũ Linh, Giám đốc Vườn quốc gia Bạch Mã, nhấn mạnh rằng điều cốt lõi không phải là "bán rừng", mà là chuyển hóa kết quả của việc giữ rừng thành giá trị kinh tế, trong đó khả năng hấp thụ carbon và các dịch vụ sinh thái được quy đổi thành nguồn lực tài chính phục vụ trực tiếp cho công tác bảo tồn và cải thiện sinh kế cộng đồng. Khi người dân được hưởng lợi từ việc giữ rừng, họ sẽ chủ động tham gia bảo vệ rừng như một lựa chọn sinh kế bền vững.

Cách tiếp cận này cho thấy tài chính xanh không chỉ gắn với carbon, mà còn gắn với toàn bộ dịch vụ sinh thái mà rừng cung cấp: Điều tiết nguồn nước, giảm thiên tai, duy trì cảnh quan và hỗ trợ phát triển du lịch sinh thái bền vững. Khi các giá trị này được lượng hóa và phân bổ hợp lý, rừng có thể tiếp cận nhiều nguồn tài chính xanh khác nhau, từ quỹ khí hậu, cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng đến các chương trình giảm phát thải quốc tế.

Định giá dịch vụ sinh thái - cơ hội và rủi ro của tài chính carbon đối với bảo tồn

Khung cảnh bản làng của đồng bào thiểu số ở bản AKy, xã Thượng Trạch (tỉnh Quảng Trị), nơi người dân sống trong vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Ảnh: Kha Phạm/TTXVN

Khung cảnh bản làng của đồng bào thiểu số ở bản AKy, xã Thượng Trạch (tỉnh Quảng Trị), nơi người dân sống trong vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Ảnh: Kha Phạm/TTXVN

Sự xuất hiện của các cơ chế như REDD+ hay các thỏa thuận chi trả giảm phát thải (ERPA) mở ra một hướng đi mới: Coi khả năng hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng là một loại hình dịch vụ môi trường có thể chi trả bằng tiền. Tuy nhiên, để biến "carbon rừng" thành nguồn lực tài chính thực sự, cần một chuỗi điều kiện khắt khe về đo đếm - báo cáo -thẩm tra (MRV), xác định đường cơ sở phát thải và chứng minh kết quả giảm phát thải là có thật.

Các chương trình thí điểm tín chỉ carbon tại khu vực Bắc Trung Bộ cho thấy nguồn thu từ chi trả giảm phát thải có thể tạo ra động lực đáng kể cho việc bảo vệ rừng và cải thiện sinh kế cộng đồng. Tuy nhiên, tài chính xanh không phải là "đũa thần" giải quyết mọi vấn đề của bảo tồn. Rủi ro lớn nhất là tài chính đi trước, bảo tồn theo sau, khiến mục tiêu sinh thái bị bóp méo bởi áp lực lợi nhuận ngắn hạn.

GS.TS Nguyễn Nghĩa Thìn, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội, nhận định rằng: "Phong Nha - Kẻ Bàng là trung tâm đa dạng sinh học của Bắc Trường Sơn, nơi lưu trữ hệ động thực vật đặc hữu phong phú và nhạy cảm do địa hình đá vôi chiếm ưu thế. Theo ông, mọi tác động đến rừng và hệ sinh thái hang động đều cần được cân nhắc thận trọng, bởi chỉ một biến động nhỏ cũng có thể làm thay đổi cấu trúc sinh học tích lũy qua thời gian dài và sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế và nền kinh tế xanh, tham gia thị trường tín chỉ carbon mà Việt Nam đang hướng tới.

Đối với hành lang sinh thái Trường Sơn, thách thức nằm ở chỗ hệ sinh thái hình thành qua thời gian rất dài nhưng phục hồi chậm trước tác động nhân sinh. Các nghiên cứu tại Phong Nha – Kẻ Bàng cho thấy chỉ một biến động nhỏ về ánh sáng, tiếng ồn hay nguồn dinh dưỡng cũng có thể làm thay đổi cấu trúc quần xã đặc hữu, cảnh báo nguy cơ tài chính xanh thúc đẩy khai thác vượt quá sức tải sinh thái và gây tổn thương khó phục hồi.

Vì vậy, điều kiện tiên quyết để tài chính xanh phát huy hiệu quả là đặt khoa học và cộng đồng ở vị trí trung tâm. Mọi cơ chế tín chỉ carbon hay chi trả dịch vụ sinh thái cần dựa trên dữ liệu khoa học tin cậy và bảo đảm người dân tham gia từ thiết kế, giám sát đến hưởng lợi, như những đối tác bảo tồn thực sự.

Nhìn rộng hơn, định giá dịch vụ sinh thái không chỉ tạo nguồn thu cho bảo tồn, mà còn thừa nhận đúng giá trị của tự nhiên. Rừng không chỉ cho gỗ, mà còn hấp thụ carbon, điều hòa khí hậu, bảo vệ nguồn nước và duy trì đa dạng sinh học - những dịch vụ thiết yếu cho phát triển bền vững. Khi được đưa vào hệ thống tính toán kinh tế, rừng được nhìn nhận như một "tài sản sinh thái quốc gia".

Từ Phong Nha -Kẻ Bàng đến Bạch Mã, thông điệp ngày càng rõ: Giữ rừng bằng "tiền sạch" không phải thương mại hóa thiên nhiên, mà là hiện đại hóa bảo tồn. Khi khoa học dẫn đường, quản trị minh bạch và tài chính xanh tạo nguồn lực dài hạn, bảo tồn có thể tự tạo động lực phát triển bền vững.

Trong bối cảnh Việt Nam cam kết giảm phát thải và thích ứng biến đổi khí hậu, hành lang sinh thái Trường Sơn có thể trở thành mô hình thử nghiệm quan trọng. Nếu thành công, đây sẽ là gợi ý cho một con đường mới: bảo tồn dựa trên kinh tế xanh, với khoa học và cộng đồng luôn ở vị trí trung tâm, để rừng tiếp tục sống, sinh lợi và bảo vệ tương lai sinh thái miền Trung.

Kha Phạm - Hải Âu (TTXVN)

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/kinh-te/di-san-song-cua-truong-son-bai-cuoi-tai-chinh-xanh-va-kinh-te-ben-vung-20260217153816552.htm