Điểm cộng chứng chỉ và bài toán cân bằng

Chứng chỉ ngoại ngữ chỉ nên là một yếu tố gia tăng lợi thế chứ không thể thay thế hoàn toàn năng lực ở các môn văn hóa khác

Chính sách ưu tiên cho môn ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, được thiết kế nhằm thực hiện các mục tiêu chiến lược về việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong thời kỳ hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, việc thực thi chính sách này cũng bộc lộ những thách thức phức tạp về tính công bằng, sự phân hóa vùng miền và sự tương thích giữa các chuẩn mực khảo thí quốc tế với kỳ thi tốt nghiệp và việc xét tuyển vào các trường đại học (ĐH).

Áp lực nặng nề cho thí sinh không có chứng chỉ

Theo quy chế thi THPT, thí sinh đạt ngưỡng năng lực ngoại ngữ theo chuẩn quốc tế sẽ được hưởng đặc quyền miễn thi bài thi ngoại ngữ trong kỳ thi tốt nghiệp, thậm chí quy chế thi tốt nghiệp trước năm 2025 còn mặc nhiên gán điểm 10 tuyệt đối cho thí sinh trong xét công nhận tốt nghiệp (năm 2025 môn ngoại ngữ chỉ là môn tự chọn, không còn là môn bắt buộc như những năm trước).

Thí sinh dự kỳ thi đánh giá năng lực do ĐHQG TP HCM tổ chức .Ảnh: HUẾ XUÂN

Thí sinh dự kỳ thi đánh giá năng lực do ĐHQG TP HCM tổ chức .Ảnh: HUẾ XUÂN

Lợi thế của học sinh giỏi ngoại ngữ chỉ thực sự thể hiện rõ trong giai đoạn xét tuyển ĐH. Hiện nay, hơn 100 cơ sở giáo dục ĐH đã đưa chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế vào phương thức xét tuyển kết hợp hoặc xét tuyển thẳng. Điều này tạo ra một "làn cao tốc riêng" cho những thí sinh có năng lực ngoại ngữ tốt bước chân vào các trường, các ngành học cạnh tranh nhất.

Tại các trường khối kinh tế, kỹ thuật và luật hàng đầu, bảng quy đổi điểm chứng chỉ ngoại ngữ thường rất có lợi. Thí sinh sở hữu IELTS từ 6.5 trở lên thường đã nắm chắc điểm 9 hoặc 10 môn tiếng Anh trong tổ hợp xét tuyển, ngay cả khi các em không tham dự bài thi này trong kỳ thi tốt nghiệp. Việc các trường ĐH ưu tiên chứng chỉ ngoại ngữ xuất phát từ nhu cầu thực tế về đào tạo.

Sinh viên có nền tảng ngoại ngữ tốt có khả năng tiếp cận giáo trình quốc tế, tham gia các chương trình trao đổi và có cơ hội việc làm tốt hơn sau khi tốt nghiệp. Tuy nhiên, việc dành quá nhiều chỉ tiêu cho phương thức này (như tại Trường ĐH Kinh tế Quốc dân lên tới 70% sinh viên trúng tuyển sở hữu IELTS 5.5 trở lên) đã khiến điểm chuẩn của phương thức xét điểm thi tốt nghiệp bị đẩy lên rất cao, tạo ra áp lực nặng nề cho những thí sinh không có chứng chỉ.

Bất đối xứng về cơ hội xét tuyển

Năm 2024 khi môn ngoại ngữ còn là môn thi bắt buộc, cả nước có gần 67.000 thí sinh đăng ký miễn thi ngoại ngữ, chiếm khoảng 6,25% tổng số thí sinh dự thi. Tuy nhiên, sự phân bổ này hoàn toàn không đồng đều giữa các tỉnh, thành. Chỉ riêng Hà Nội và TP HCM đã chiếm hơn 51% tổng lượng thí sinh được miễn thi trên toàn quốc.

Năm 2025, khi môn ngoại ngữ không còn là môn bắt buộc và học sinh được miễn thi môn ngoại ngữ không còn được mặc nhiên gán điểm 10 khi xét tốt nghiệp, Hà Nội và TP HCM vẫn là 2 địa phương có số thí sinh chọn môn thi ngoại ngữ lớn nhất cả về số lượng lẫn tỉ lệ. Ở các tỉnh như Hà Giang (cũ), Cao Bằng, Sơn La, số lượng học sinh có chứng chỉ quốc tế chỉ tính bằng đơn vị chục, trong khi ở Hà Nội và TP HCM là hàng chục ngàn. Điều này tạo ra một sự bất đối xứng về cơ hội khi xét tuyển vào các trường ĐH top đầu, vốn đang ngày càng ưu tiên các chứng chỉ này.

Sự gia tăng ảnh hưởng của chứng chỉ ngoại ngữ trong tuyển sinh đã làm nảy sinh những tranh luận về tính công bằng trong giáo dục. Bộ Giáo dục và Đào tạo và nhiều chuyên gia giáo dục lo ngại về việc một loại hình chứng chỉ tạo ra ưu thế vượt trội so với những nỗ lực học tập toàn diện hoặc những hỗ trợ ưu tiên cần thiết khác.

Chẳng hạn tổng mức điểm cộng tối đa cho một thí sinh thuộc diện ưu tiên đối tượng và khu vực cao nhất (ví dụ: người dân tộc thiểu số tại khu vực 1) hiện nay là 2,75 điểm. Tuy nhiên, tại nhiều trường ĐH, thí sinh sở hữu chứng chỉ ngoại ngữ có thể nhận được mức ưu tiên vượt xa con số này. Ví dụ, Trường Đại học Luật TP HCM áp dụng mức cộng lên tới 3 điểm cho thí sinh có IELTS 7.5 trở lên trong phương thức xét tuyển kết hợp.

Ngoài việc cộng điểm thưởng trực tiếp, phương thức quy đổi điểm chứng chỉ thành điểm môn thi 10 tuyệt đối cũng tạo ra những khoảng chênh lệch lớn. Có một số trường ĐH quy đổi IELTS 6.5 thành 10 điểm tiếng Anh, nếu một thí sinh khác nỗ lực làm bài thi tốt nghiệp cũng môn ngoại ngữ đạt 7 điểm thì khoảng cách chênh lệch đã là 3 điểm.

Về mặt khảo thí, bài thi IELTS đánh giá năng lực giao tiếp và học thuật tổng quát, trong khi bài thi tốt nghiệp THPT đánh giá kiến thức chương trình phổ thông. Việc đánh đồng 2 hệ thống này bằng các bảng quy đổi "hào phóng" đã khiến những thí sinh ở nông thôn - những em vốn chỉ có thể bám sát chương trình sách giáo khoa - bị thua thiệt trong cuộc đua điểm số.

Mặc dù tồn tại những bất cập, việc duy trì chính sách ưu tiên cho ngoại ngữ là một yêu cầu tất yếu trong chiến lược phát triển quốc gia. Vấn đề ở đây không phải là xóa bỏ ưu tiên mà là điều chỉnh cơ chế để bảo đảm hài hòa giữa khuyến khích tài năng và duy trì công bằng xã hội.

Hạ điểm cộng là phù hợp

Kết luận số 91-KL/TW của Bộ Chính trị đã xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm là: "Từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học". Các chứng chỉ quốc tế đóng vai trò như tiêu chuẩn đo lường tin cậy để thúc đẩy quá trình này. Nếu không ưu tiên, động lực để học sinh và gia đình đầu tư vào việc học ngoại ngữ thực chất (thay vì học mẹo để thi) sẽ bị suy giảm, ảnh hưởng đến mục tiêu chiến lược của quốc gia. Việc đầu tư mạnh mẽ cho giáo dục ngoại ngữ tại vùng sâu, vùng xa chính là chìa khóa để giải quyết bài toán mâu thuẫn giữa "phát triển tinh hoa" và "công bằng đại chúng".

Chính vì vậy, dự kiến của Bộ Giáo dục và Đào tạo giảm mức điểm cộng khuyến khích đối với thí sinh có chứng chỉ quốc tế từ tối đa 3 điểm xuống còn khoảng 1 đến 2 điểm là phù hợp với tình hình thực tế hiện nay. Việc này nhằm bảo đảm rằng chứng chỉ ngoại ngữ chỉ là một lợi thế gia tăng chứ không phải là yếu tố thay thế hoàn toàn năng lực ở các môn học văn hóa khác.

TS Nguyễn Đức Nghĩa

Nguồn NLĐ: https://nld.com.vn/diem-cong-chung-chi-va-bai-toan-can-bang-196260122204201474.htm