Điểm tựa pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao
Đưa pháp luật đến với đồng bào bằng ngôn ngữ gần gũi, gắn tuyên truyền với giải quyết những vấn đề ở cơ sở là cách làm được Phú Thọ chú trọng. Trao đổi với Báo Kiểm toán, ông Nguyễn Hải – Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Phú Thọ – chia sẻ kết quả và định hướng nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật tại vùng đồng bào DTTS&MN.
PV: Thưa ông, công tác PBGDPL tại vùng đồng bào DTTS&MN của tỉnh thời gian qua đạt những kết quả nổi bật nào?
Ông Nguyễn Hải: Sau hợp nhất, Phú Thọ có trên 1,015 triệu người DTTS, với 51 thành phần dân tộc cùng sinh sống. Vùng đồng bào DTTS&MN gồm 72 xã, 1.195 thôn, trong đó có 487 thôn đặc biệt khó khăn. Địa bàn rộng, nhiều nơi bị chia cắt, ngôn ngữ, phong tục đa dạng và trình độ dân trí không đồng đều đặt ra những yêu cầu đặc thù đối với công tác PBGDPL.

Ông Nguyễn Hải, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Phú Thọ. Ảnh: Hiền Khôi
Từ năm 2019 đến nay, tính chung các địa bàn trước hợp nhất, tỉnh đã tổ chức 1.303 hoạt động PBGDPL tại cơ sở; biên soạn, phát hành 121.897 ấn phẩm, tài liệu, cẩm nang pháp luật; tổ chức 77 lớp trợ giúp pháp lý với 35 chuyên đề, cung cấp hơn 190.000 tờ gấp pháp luật. Đã thực hiện trợ giúp pháp lý đối với 4.332 vụ việc liên quan đến người DTTS.
Qua đó, nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của đồng bào từng bước được nâng lên. Các mâu thuẫn, tranh chấp được quan tâm giải quyết ngay tại thôn, bản, góp phần hạn chế khiếu kiện vượt cấp, giữ gìn đoàn kết cộng đồng và ổn định địa bàn.
Để khắc phục rào cản ngôn ngữ, Sở phối hợp với Báo và Phát thanh - Truyền hình Phú Thọ xây dựng các chuyên mục, chương trình bằng tiếng Mường, tiếng Thái, tiếng Cao Lan; sản xuất hàng trăm chương trình chuyên biệt, đồng thời phối hợp với VTV5 phát sóng rộng rãi. Cách truyền đạt gần gũi giúp bà con dễ tiếp nhận, hiểu và ghi nhớ các quy định pháp luật.
Tỉnh cũng đã xây dựng 88 điểm hỗ trợ đồng bào DTTS ứng dụng công nghệ thông tin tại trụ sở UBND các xã vùng khó khăn, tập huấn công nghệ cho gần 5.900 lượt người. Những điểm hỗ trợ này giúp người dân tiếp cận thông tin chính thống, tra cứu pháp luật và từng bước thực hiện thủ tục hành chính trực tuyến.
PV: Ngành đã đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền ra sao để phù hợp với văn hóa, tập quán của đồng bào? Theo ông, mô hình nào có khả năng nhân rộng?
Ông Nguyễn Hải: Quan điểm xuyên suốt của chúng tôi là tuyên truyền phải dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện, phù hợp với từng vùng, từng dân tộc. Nội dung cần xuất phát từ vấn đề người dân quan tâm; phương thức truyền đạt phải giúp đồng bào hiểu và chủ động thực hiện, tránh dừng ở phổ biến văn bản hay tổ chức hội nghị.
Ngành đặc biệt coi trọng vai trò của người có uy tín. Toàn tỉnh hiện có 2.170 người có uy tín trong đồng bào DTTS, gồm bí thư chi bộ, trưởng thôn, già làng, cán bộ nghỉ hưu, thầy thuốc, người sản xuất giỏi và những cá nhân tiêu biểu khác.
Sở đã phối hợp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng pháp luật cho 9.418 lượt người có uy tín; tuyên dương 963 gương điển hình tiên tiến. Am hiểu phong tục, nói được tiếng dân tộc và được bà con tin tưởng, họ có lợi thế trong giải thích quy định, vận động người dân từ bỏ hủ tục, chấp hành pháp luật, hương ước, quy ước. Sự tham gia của lực lượng này giúp nội dung tuyên truyền gắn sát hơn với hoàn cảnh, tâm tư của từng gia đình, cộng đồng.
Một hướng đổi mới là lồng ghép PBGDPL vào lễ hội truyền thống, ngày hội văn hóa - thể thao và sinh hoạt tại nhà văn hóa, nhà sinh hoạt cộng đồng. Tỉnh đã đầu tư mới 231 nhà văn hóa, nhà sinh hoạt cộng đồng, tạo thêm không gian để truyền tải thông tin pháp luật gắn với bảo tồn bản sắc văn hóa.

Ra mắt Câu lạc bộ Phụ nữ với pháp luật thôn Phú Lương, xã Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Ảnh: Hiền Khôi
Cùng với tuyên truyền trực tiếp, ngành duy trì các nhóm Zalo kết nối Sở với cán bộ phụ trách công tác dân tộc cấp xã để cung cấp tài liệu, trao đổi nghiệp vụ. Trang thông tin điện tử của Sở đăng tải hàng trăm tin, bài về pháp luật, chính sách dân tộc; tài liệu từng bước được số hóa thành infographic, video ngắn, tờ gấp điện tử, giúp người dân, nhất là thanh thiếu niên, tiếp cận thuận tiện hơn.
Chúng tôi đánh giá cao khả năng nhân rộng mô hình kết hợp người có uy tín, tổ hòa giải và công nghệ thông tin. Người có uy tín tạo sự tin cậy; tổ hòa giải hỗ trợ giải quyết vụ việc trên cơ sở pháp luật; công nghệ cung cấp tài liệu, thông tin chính thống. Việc kết hợp có thể điều chỉnh linh hoạt theo điều kiện từng địa bàn.
PV: Xin ông chia sẻ thêm về những chuyển biến cụ thể trong phòng, chống tảo hôn, giải quyết tranh chấp và hỗ trợ đồng bào tiếp cận chính sách an sinh xã hội tại địa phương?
Ông Nguyễn Hải: Tôi cho rằng, hiệu quả PBGDPL cần được nhìn nhận qua thay đổi trong nhận thức, hành vi và khả năng vận dụng pháp luật của người dân. Vì vậy, ngành phối hợp với các địa phương lựa chọn nội dung theo từng nhóm đối tượng, gắn với những vấn đề phát sinh trong đời sống.
Về phòng, chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống, tỉnh đã tập huấn pháp luật về hôn nhân và gia đình cho 29.541 lượt người DTTS; xây dựng 13 mô hình điểm tại các xã và trường học, đặc biệt là trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú, với 3.300 lượt người tham gia; bồi dưỡng kỹ năng tư vấn cho 811 lượt cán bộ cơ sở.
Hoạt động này giúp phụ huynh, học sinh hiểu rõ hơn về độ tuổi kết hôn, sức khỏe sinh sản và hệ lụy của việc kết hôn sớm. Từ năm 2021 đến đầu năm 2025, các địa bàn ghi nhận 235 cặp tảo hôn, không phát sinh trường hợp hôn nhân cận huyết thống. Tảo hôn vẫn còn là vấn đề cần kiên trì vận động, nhất là ở những nơi tập quán kết hôn sớm chưa được khắc phục.
Trong lĩnh vực đất đai, tỉnh quan tâm hỗ trợ đất ở cho các hộ còn thiếu đất ở, giải quyết thủ tục chia tách, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hàng nghìn hộ; lồng ghép tuyên truyền pháp luật đất đai trong các đợt trợ giúp pháp lý lưu động. Tổ hòa giải phối hợp với lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự nắm tình hình, giải quyết sớm mâu thuẫn về ranh giới đất ở, đất lâm nghiệp.
Theo thống kê, các tổ hòa giải đã tiếp nhận, xử lý 29.358 vụ việc, hòa giải thành công 25.389 vụ, đạt khoảng 86,5%. Trên 94% khu dân cư vùng DTTS&MN đạt tiêu chuẩn an toàn về an ninh, trật tự. Việc hướng dẫn, hỗ trợ kịp thời ngay tại cơ sở góp phần hạn chế tranh chấp kéo dài, giữ gìn tình làng nghĩa xóm.
PBGDPL còn gắn với hướng dẫn đồng bào tiếp cận chính sách an sinh. Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát của tỉnh đã hoàn thành 100% kế hoạch, với 10.801 căn nhà được xây mới, sửa chữa; trong đó có 1.142 hộ DTTS trực tiếp thụ hưởng từ Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG). Đây cũng là yêu cầu đối với công tác tuyên truyền: giúp người dân hiểu chính sách, nắm quyền lợi và được hỗ trợ giải quyết khó khăn trong quá trình thực hiện.
PV: Sau hợp nhất và vận hành chính quyền địa phương hai cấp, ngành sẽ tập trung vào những nhiệm vụ nào để nâng cao hiệu quả PBGDPL?
Ông Nguyễn Hải: Khi vận hành chính quyền địa phương hai cấp, khối lượng công việc tại cấp xã tăng, trong khi cán bộ phụ trách công tác dân tộc, tôn giáo thường kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ. Ngành sẽ tập trung bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, tuyên truyền viên cả về chính sách, pháp luật và kỹ năng vận động. Cán bộ phải nắm chắc quy định, hiểu địa bàn, giải đáp kịp thời, hướng dẫn thống nhất những vấn đề người dân quan tâm.
Đồng thời, ngành rà soát, chọn lọc các mô hình hiệu quả của Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hòa Bình trước đây để nhân rộng, chú trọng trợ giúp pháp lý trực tiếp tại địa bàn đặc biệt khó khăn, câu lạc bộ pháp luật gắn với văn hóa dân tộc và tổ hòa giải có người có uy tín tham gia. Mỗi mô hình phải phù hợp với nhu cầu, điều kiện thực tế, tránh triển khai hình thức.

Thôn Bến Thân, xã Lai Đồng, tỉnh Phú Thọ tập trung hơn 100 hộ dân tộc Dao sinh sống là địa bàn được tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật. Ảnh: Hiền Khôi
Trong quá trình triển khai, cần tăng cường hướng dẫn, tạo điều kiện để người dân chủ động tìm hiểu và thực hiện pháp luật. Đồng bào phải được biết, được bàn về những chính sách liên quan trực tiếp đến đời sống, có cơ hội phản ánh vướng mắc và tham gia giám sát việc thực hiện tại địa phương. Qua đó, nâng cao khả năng tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, trách nhiệm với cộng đồng và đóng góp vào sự phát triển của địa phương.
Ngành kiến nghị tăng cường phối hợp giữa Sở Dân tộc và Tôn giáo với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Công an tỉnh, Sở Tư pháp, Sở Nông nghiệp và Môi trường cùng UBND các xã, phường. Trách nhiệm từng cơ quan cần được xác định rõ, gắn kết quả PBGDPL với chuyển biến trong ý thức chấp hành pháp luật của người dân.
Về nguồn lực, cần ưu tiên kinh phí PBGDPL, trợ giúp pháp lý trong khuôn khổ CTMTQG giai đoạn 2026-2030; nghiên cứu cơ chế hỗ trợ hoạt động, cung cấp thông tin, bồi dưỡng kiến thức cho người có uy tín. Ngành cũng định hướng xây dựng cơ sở dữ liệu số về pháp luật, chính sách dân tộc; nghiên cứu trợ lý ảo, chatbot hỏi - đáp bằng tiếng phổ thông và tiếng dân tộc trên nền tảng di động; đề xuất nâng cấp hạ tầng số tại 487 thôn đặc biệt khó khăn.
Chúng tôi tin tưởng rằng, với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, sự phối hợp của các cấp, các ngành và sự chủ động tham gia của đồng bào, công tác PBGDPL sẽ tiếp tục có những chuyển biến tích cực. Khi mỗi người dân biết tìm kiếm thông tin, sử dụng các dịch vụ pháp lý và tự giác chấp hành pháp luật, pháp luật sẽ thực sự trở thành điểm tựa trong đời sống đồng bào. Đây là cơ sở để củng cố niềm tin, giữ gìn đoàn kết cộng đồng, tạo điều kiện cho vùng đồng bào DTTS&MN Phú Thọ phát triển bền vững, gắn với bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc.

